- Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "Vương Văn D - Nguyễn Văn T"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận háng cáo của bị đơn ông Nguyễn Văn T.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 296 Bộ luật Tố tụng d n sự Tòa án; Điều 308 Bộ luật Tố tụng d n sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 107/2022/DS-PT Ngày 18-5-2022 V/v tranh chấp quyền sử dụng đất; yêu cầu chấm dứt hành vi trái pháp luật |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Dũng
Các thẩm phán:
Bà Đinh Thị Mộng Tuyết
Bà Nguyễn Thị Duyên Hằng
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Hoàng – Th
T a án nh n d n tỉnh Bình D ơng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Ngô Kim Duyên - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 12 và 18 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở T a án nh n d n tỉnh Bình D ơng xét xử phúc thẩm công hai vụ án d n sự phúc thẩm thụ l số 70/2022/TLPT-DS ngày 22 tháng 3 năm 2022 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu chấm dứt hành vi trái pháp luật”.
Do Bản án d n sự sơ thẩm số 06/2022/DS-ST ngày 20/01/2022 của T a án nhân dân huyện D, tỉnh Bình D ơng bị háng cáo.
Theo Quyết định đ a vụ án ra xét xử phúc thẩm số 60/2022/QĐ-PT ngày 12 tháng 4 năm 2022, giữa các đ ơng sự:
- Nguyên đơn: Ông V ơng Văn D, sinh năm 1967; địa chỉ: Số 441, hu phố 2, ph ờng M, thị xã B, tỉnh Bình D ơng.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1965; địa chỉ: Ấp C, xã T, huyện D, tỉnh Bình D ơng.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Bùi Thị Hồng H, sinh năm 1966; địa chỉ: Số 441, hu phố 02, ph ờng M, thị xã B, tỉnh Bình D ơng.
Ng ời đại diện hợp pháp: Bà Bùi Thị Tuyết M, sinh năm 1973; th ờng trú: Khu phố 1, ph ờng M, thị xã B, tỉnh Bình D ơng (văn bản ủy quyền ngày 05/5/2022).
2. Ông Hồ Anh Đ, sinh năm 1968; ngụ tại: Số 12, ph ng 7A, đ ờng Võ Văn K, ph ờng Nguyễn Thái B, Quận M, thành phố Hồ Chí Minh.
- Ng ời háng cáo: Bị đơn ông Nguyễn Văn T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản hòa giải ngày 28/12/2021 và tại phiên tòa, nguyên đơn (ông D) trình bày:
Vào năm 2010, vợ chồng ông D, bà H có nhận chuyển nh ợng của ông T phần đất thuộc thửa đất số 717, 732, tờ bản đồ số 21 có tổng diện tích 12.893m2 tọa lạc tại ấp C, xã T, huyện D, tỉnh Bình D ơng. Ông D, bà H đã đ ợc Uỷ ban nh n d n (viết tắt là UBND) huyện D cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (viết tắt là GCNQSDĐ) số BA 676783, vào sổ số CH00176 QSDĐ/QĐ-UB cho ông V ơng Văn D và bà Bùi Thị Hồng H ngày 14/9/2010. Vào năm 2019, ông T có nhờ ông D liên ranh đất thì ông D lên và iểm tra lại hiện trạng đất, ông D thấy ông T tự nhổ trụ rào của con đ ờng đi thuộc phần đất ông D có chiều ngang 05m, chiều dài 103,5m, ông T tự nhổ trụ rào và chôn lại vị trí hác, hiến con đ ờng đi của ông D có chiều ngang 05m giờ chỉ c n 03m, sau đó ông T đồng trả lại con đ ờng đi có chiều ngang 05m cho ông D nh ng hông chôn trụ rào lại đúng vị trí ban đầu. Vào ngày 16/01/2020, ông D có ủy quyền toàn phần diện tích đất trên cho ông Hồ Anh Đ, sinh năm 1968, địa chỉ: Số 12 ph ng 7, đ ờng Võ Văn K, ph ờng Nguyễn Thái B, Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh để ông Đ thực hiện việc chuyển nh ợng phần đất trên cho ông D. Tới ngày 08/02/2020, ông Đ lên để c a c y trên phần đất có chiều ngang 05m của ông D để rào ranh đất lại thì bị ông T ngăn cản, chửi bới hông cho thợ c a c y. Ngày 13/02/2020, ông D gửi đơn yêu cầu ban lãnh đạo ấp C và UBND xã T giải quyết nh ng hông thành.
Vì vậy, ông D hởi iện yêu cầu ông T trả lại phần đất có diện tích 517,5m2 thuộc thửa đất số 732, tờ bản đồ số 21 tọa lạc tại ấp C, xã T, huyện D, tỉnh Bình D ơng và yêu cầu ông T tự di dời, dỡ bỏ các tài sản của ông T tự trồng, rào trên đất.
Theo ết quả đo đạc đất tranh chấp tại Mảnh trích lục địa chính đất tranh chấp số 197/2021 do Chi nhánh Văn ph ng đăng đất đai huyện D duyệt ngày 06/5/2021 thì phần đất tranh chấp thực tế có diện tích 512,3m2 (gồm phần A có diện tích 337,6m2 + phần B có diện tích 174,7m2 trên bản vẽ). So với đơn hởi iện ngày 30/6/2020 thì ết quả đo đạc đất tranh chấp có giảm 5,2m2 nên ông D xin rút yêu cầu đối với diện tích 5,2m2 giảm này.
Khi đo đạc đất tranh chấp, ông T đồng trả lại cho ông D phần đất 174,7m2 và hông đồng trả phần đất có diện tích 337,6m2. Tại buổi h a giải ngày 28/12/2021, ông T lại hông đồng với toàn bộ yêu cầu hởi iện của ông D nên ông D giữ nguyên yêu cầu ông T phải trả lại phần đất có diện tích 512,3m2. Hiện nay ông T đã tiến hành rào bít toàn bộ phần đất tranh chấp và sử dụng trồng c y cao su, hông cho ông D có lối đi vào đất. Đối với các tài sản trên đất là các c y cao su do ông T tự cắt bán thì ông D hông tranh chấp, đối với các c y cao su non ông T tự trồng và hàng rào ông T tự rào thì yêu cầu ông T tự di dời, dỡ bỏ.
Ông D đồng với ết quả đo đạc theo Mảnh rích lục địa chính đất tranh chấp số 197/2021 ngày 06/5/2021, ết quả thẩm định tài sản tranh chấp theo biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 30/7/2020, ngày 10/8/2020, ngày 12/3/2021, ết quả định giá theo biên bản định giá ngày 10/6/2021. Về án phí, chi phí tố tụng hác: Yêu cầu ông T chịu theo quy định pháp luật. Ngoài ra, ông D hông có yêu cầu gì hác.
- Theo bản tự khai, biên bản hòa giải ngày 28/12/2021 và tại phiên tòa sơ thẩm bị đơn (ông T) trình bày:
Vào năm 2010, ông T có chuyển nh ợng cho vợ chồng ông D, bà H phần đất thuộc thửa đất số 717, 732, tờ bản đồ số 21 có tổng diện tích 12.893m2 tọa lạc tại ấp C, xã T, huyện D, tỉnh Bình D ơng. Năm 2010, ông T chỉ chuyển nh ợng cho ông D, bà H tổng diện tích là 12.893m2 hông chuyển nh ợng phần đất tranh chấp có diện tích 512,3m2 cho ông D, bà H, do ông D hông có lối đi vào đất nên ông T có cho ông D phần đất giáp đ ờng đất giao thông nông thôn có chiều ngang hoảng 1,7m, chiều dài hoảng 103m để có lối đi vào đất. Ông T yêu cầu Tòa án xác định rõ diện tích của phần đất tranh chấp là con đ ờng có diện tích bao nhiêu, chiều ngang của phần đất giáp đ ờng đất đỏ là bao nhiêu mét, ông T đã đ ợc xem Mảnh trích lục địa chính đất tranh chấp số 197/2021 ngày 06/5/2021 nh ng ông T không hiểu. Ông T hông đồng với toàn bộ yêu cầu hởi iện của ông D. Vì theo sơ đồ đất trong GCNQSDĐ số BA 676783, vào sổ số CH00176 QSDĐ/QĐ-UB cho ông V ơng Văn D, sinh năm 1967 và bà Bùi Thị Hồng H, sinh năm 1966 ngày 14/9/2010 có thể hiện rõ hành lang lộ giới (HLLG) là 35m2 tức phần đất đ ờng đi của ông D đ ợc tách từ thửa 255 của ông T chỉ có 35m2. Đồng thời, trong hợp đồng chuyển nh ợng đất năm 2010, ông T chuyển nh ợng cho ông D, bà H tổng diện tích là 12.893m2 nếu ông T chuyển nh ợng thêm phần đất 512,3m2 thì tổng diện tích đất chuyển nh ợng phải là 13.405,3m2, nh vậy là hông đúng, ông D hởi iện yêu cầu ông T trả lại phần đất 512,3m2 là hông có căn cứ nên ông T hông đồng . Theo ết quả của Mảnh trích lục địa chính số 197-2021 do Chi nhánh Văn ph ng Đăng đất đai huyện D duyệt ngày 06/5/2021 thì thửa số 732 có diện tích 1.984,7m2, có chênh lệch giảm 1.481,3m2 là hông đúng vì đất sử dụng từ tr ớc đến nay vẫn nh vậy, hông thể có chuyện giảm diện tích đ ợc. Hiện nay ông T đã trồng c y cao su non trên đất, hi trồng ông T không nói cho ông D biết vì đất này của ông T nên ông có quyền trồng.
Đối với ết quả đo đạc đất tranh chấp theo Mảnh trích lục địa chính số 197-2021 do Chi nhánh Văn ph ng Đăng đất đai huyện D duyệt ngày 06/5/2021, ết quả thẩm định tài sản tranh chấp theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 30/7/2020, ngày 10/8/2020, ngày 12/3/2021, ết quả định giá theo biên bản định giá ngày 10/6/2021 và nội dung biên bản xác minh ngày 24/11/2021 tại Ph ng Tài nguyên và Môi tr ờng huyện D và Chi nhánh Văn ph ng đăng đất đai huyện D thì ông T hông có iến. Ngoài ra, ông T hông có iến gì hác.
- Tại phiên tòa sơ thẩm người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (bà H) có ý kiến: Bà H là vợ ông D, bà H thống nhất với iến của ông D, yêu cầu ông T trả lại phần đất có diện tích 512,3m2 thuộc thửa đất số 732, tờ bản đồ số 21 tọa lạc tại ấp C, xã T, huyện D, tỉnh Bình D ơng cho vợ chồng ông D, bà H. Ngoài ra, bà H hông có iến gì hác.
- Bản tự khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (ông Đ) có ý kiến:
Vào đầu năm 2020, ông Đ có nhận chuyển nh ợng của vợ chồng ông D, bà H phần đất thuộc thửa đất số 717, 732, tờ bản đồ số 21 có tổng diện tích 12.893m2 tọa lạc tại Ấp C, xã T, huyện D, tỉnh Bình D ơng nh ng ch a làm thủ tục sang tên. Vào ngày 16/01/2020, ông D, bà H và ông Đ thỏa thuận làm hợp đồng ủy quyền toàn phần diện tích đất trên cho ông Đ để ông Đ thực hiện việc chuyển nh ợng lại phần đất trên. Tới ngày 08/02/2020, ông Đ lên để c a c y trên phần đất có chiều ngang 05m của ông D để rào ranh đất lại thì bị ông T ngăn cản, chửi bới hông cho thợ c a c y. Ngày 13/02/2020, ông D gửi đơn yêu cầu ban lãnh đạo ấp C và UBND xã T giải quyết nh ng hông thành. Ông Đ có nói với ông D nếu hông giải quyết đất có tranh chấp thì ông Đ sẽ hông tiếp tục nhận chuyển nh ợng đất của ông D nữa. Hiện nay, ông T đã tiến hành rào bít toàn bộ phần đất tranh chấp và sử dụng trồng c y cao su, hông cho ông Đ có lối đi vào đất. Ông Đ yêu cầu T a án xét xử vụ án theo đúng quy định pháp luật.
Tại Bản án d n sự sơ thẩm số 06/2022/DS-ST ngày 20/01/2022, Tòa án nhân dân huyện D, tỉnh Bình D ơng đã tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu “Tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu chấm dứt hành vi trái pháp luật” của ông V ơng Văn D.
1.1. Buộc ông Nguyễn Văn T trả lại cho ông V ơng Văn D và bà Bùi Thị Hồng H phần đất có diện tích 512,3m2 là đất trồng lúa, viết tắt là đất LUK (trong đó có 35m2 đất HLATĐB và 477,3m2 đất LUK) thuộc thửa đất số 732, tờ bản đồ số 21, tọa lạc tại ấp C, xã T, huyện D, tỉnh Bình D ơng, đất có tứ cận:
- Phía Bắc giáp thửa đất số 255, 793
- Phía Đông giáp đ ờng giao thông nông thôn 07m
- Phía Nam giáp thửa đất số 687,698
- Phía T y giáp thửa đất số 732
(Có ký hiệu A, B trên bản vẽ)
1.2. Buộc ông Nguyễn Văn T phải di dời tài sản trên phần đất 512,3m2 gồm 10 c y cao su non để trả đất cho ông V ơng Văn D và bà Bùi Thị Hồng H ể từ ngày bản án có hiệu lực thi hành.
1.3. Đình chỉ đối với diện tích 5,2m2 do ông V ơng Văn D tự nguyện rút yêu cầu.
Ngoài ra, T a án cấp sơ thẩm c n tuyên về chi phí tố tụng, án phí, trách nhiệm thi hành án và quyền háng cáo theo quy định pháp luật.
Sau hi xét xử sơ thẩm, ngày 07/02/2022, bị đơn ông Nguyễn Văn T kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại phiên t a phúc thẩm, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu hởi iện, bị đơn ông Nguyễn Văn T giữ nguyên yêu cầu háng cáo; các đ ơng sự hông thỏa thuận đ ợc với nhau về việc giải quyết vụ án.
Ý iến của Đại diện Viện Kiểm sát về việc tu n theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án d n sự ở giai đoạn phúc thẩm:
- Về tố tụng: Ng ời tiến hành tố tụng, ng ời tham gia tố tụng thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng d n sự.
- Về nội dung: Căn cứ vào hợp đồng chuyển nh ợng quyền sử dụng đất giữa nguyên đơn và bị đơn, thì thửa đất ông T đã chuyển nh ợng bao gồm các thửa: 717, 730, 731 (hiện tại thửa 730, 731 đã đ ợc hợp thành thửa 732) diện tích 12.893m2 trong đó 12.715m2 đất lúa, LNL 143m2, HLLG 35m2. Ngày 14/9/2010, vợ chồng ông D, bà H đ ợc UBND huyện D cấp GCNQSDĐ. Tại Công văn số 2168/UBND-BTCD ngày 11/10/2021 của UBND huyện D xác định việc cấp GCNQSDĐ cho ông D, bà H là đúng trình tự, thủ tục. Khi cấp giấy hình thể và diện tích đ ợc trích đo theo bản đồ địa chính có đo đạc thực tế. Đối chiếu giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất 732 cấp cho ông D và hồ sơ tách, nhập thửa thì thửa 732 có diện tích 3.466m2 (hợp thửa 730, 731), trong đó thửa 730 đ ợc tách từ thửa 285 diện tích 178m2 (LNL 143m2, HLLG 35m2). Sau khi ông D nhận chuyển nh ợng đất, ông D làm đơn điều chỉnh thời hạn sử dụng đất từ đất cao su thành đất trồng lúa là phù hợp với hiện trạng đất của ông D. Theo biên bản iểm tra hiện trạng và diện tích sử dụng đ ợc lập từ tháng 5/2020 và hồ sơ trích đo thửa đất ngày 28/5/2020, đã thể hiện thửa 732 có trừ HLLG 35m2 và hồ sơ trích đo thửa đất 732 thể hiện thửa 732 h ớng Đông Nam giáp đ ờng giao thông nông thôn 07m có chiều ngang 05m, trừ HLLG 35m2. Trong Công văn ghi chú hành lang an toàn đ ờng bộ (07 x 05)m = 35m2. Nh vậy, ranh đất nguyên đơn ông D chỉ là con đ ờng đi thuộc phần đất của nguyên đơn tự mở có chiều rộng 05m để ra con đ ờng đất đỏ nông thôn là phù hợp với các chứng cứ trên. Sau hi chuyển nh ợng đất cho ông D thửa 716 và thửa 255 của bị đơn c n lại 6.029m2 (tăng 122,6m2). Ngày 04/7/2019, bị đơn làm đơn đăng biến động từ thửa 716 thành thửa 793, đo đạc lại diện tích 6.151m2 và chuyển mục đích từ đất trồng lúa sang đất trồng c y l u năm. Nh vậy, thửa 255, 793 của ông T là đất c y l u năm nh ng phần đất tranh chấp là đất trồng lúa (thửa 732 của ông D). Tại Tòa án cấp sơ thẩm, nguyên đơn cung cấp 07 tấm hình ông D thuê ông T đóng trụ bê tông rào hàng rào bằng ẽm làm ranh đất vào năm 2019. Việc bị đơn hai rằng diện tích đất tranh chấp 512,3m2 là đất của ông T là hông có cơ sở. Ngoài ra, ông T c n tự trồng c y cao su trên đất của nguyên đơn. Khi ch a có sự đồng của nguyên đơn là trái quy định của pháp luật. T a án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu hởi iện của nguyên đơn là có căn cứ. Bị đơn háng cáo nh ng hông đ a ra đ ợc tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình. Đề nghị hông chấp nhận yêu cầu háng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Sau hi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời trình bày, tranh tụng của các đ ơng sự tại phiên t a, iến đại diện Viện Kiểm sát,
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng:
Ng ời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Hồ Anh Đ có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Do vậy, căn cứ Điều 296 Bộ luật Tố tụng d n sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông Đ.
Quá trình tố tụng tại Tòa án cấp sơ thẩm nguyên đơn ông D xin rút một phần yêu cầu hởi iện đối với phần diện tích 5,2m2. Việc rút một phần yêu cầu hởi iện của nguyên đơn là hoàn toàn tự nguyện phù hợp với quy định pháp luật nên Tòa án cấp sơ thẩm đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu này là đúng theo quy định tại Điều 244 Bộ luật Tố tụng d n sự.
Về nội dung:
Nguyên đơn ông D hởi iện yêu cầu bị đơn ông T phải trả lại phần đất qua đo đạc thực tế có diện tích 512,3m2 thuộc một phần thửa đất số 732, tờ bản đồ số 21, đất tọa lạc tại ấp C, xã T, huyện D, tỉnh Bình D ơng, yêu cầu di dời tài sản trên đất (10 c y cao su non). Tr ớc yêu cầu hởi iện của nguyên đơn thì bị đơn hông đồng .
Xét yêu cầu tranh chấp quyền sử dụng đất của nguyên đơn:
Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, cũng nh do các đ ơng sự cung cấp và do Tòa án thu thập thể hiện:
Thửa đất số 732, tờ bản đồ số 21 có nguồn gốc từ ông D, bà H nhận chuyển nh ợng của ông T theo hợp đồng chuyển nh ợng quyền sử dụng đất ngày 03/6/2010 (bút lục 204 - 205), phần đất này ông T đ ợc nhận thừa ế quyền sử dụng đất của mẹ ruột tên Nguyễn Thị Út, sinh năm 1935 (chết năm 2001) theo văn bản ph n chia tài sản thừa ế đ ợc UBND xã T chứng thực ngày 01/02/2010. Ông D, bà H đ ợc UBND huyện D cấp GCNQSDĐ số BA 676783, vào sổ số CH00176 QSDĐ/QĐ-UB ngày 14/9/2010.
Theo Công văn số 2168/UBND-BTCD ngày 11/10/2021 của UBND huyện D về việc trả lời Công văn số 93/TA-DS ngày 24/8/2021 của T a án nh n dân huyện D nh sau:
Việc cấp GCNQSDĐ số vào sổ: CH00176 ngày 14/9/2010 do UBND huyện D cấp cho ông V ơng Văn D và bà Bùi Thị Hồng H đ ợc cấp theo trình tự, thủ tục quy định tại Điều 23 Nghị định số 88/2009/NĐ-CP ngày 19/10/2009 của Chính phủ về cấp GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản hác gắn liền với đất, Thông t số 17/2009/TT-BTTNMT ngày 21/10/2009 của Bộ Tài nguyên và Môi tr ờng quy định về GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản hác gắn liền với đất, hi cấp GCNQSDĐ hình thể và diện tích đ ợc trích đo theo bản đồ địa chính, có đo đạc thực tế. Diện tích 3.466m2 đất thuộc thửa 732, tổ bản đồ số 21 theo GCNQSDĐ so với diện tích 1.984,7m2 đất theo mảnh trích lục địa chính thì giảm 1.481,3m2, nguyên nhân là do tr ớc đ y hi cấp GCNQSDĐ hình thể và diện tích tính bằng ph ơng pháp thủ công nên có sự chênh lệch về diện tích.
Việc cấp GCNQSDĐ số vào sổ: CH00137 ngày 07/5/2010 do UBND huyện D cấp cho ông Nguyễn Văn T đ ợc cấp theo trình tự, thủ tục quy định tại Điều 23 Nghị định số 88/2009/NĐ-CP ngày 19/10/2009 của Chính phủ về cấp GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản hác gắn liền với đất, Thông t số 17/2009/TT-BTTNMT ngày 21/10/2009 của Bộ Tài nguyên và Môi tr ờng quy định về GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản hác gắn liền với đất, hi cấp GCNQSDĐ hình thể và diện tích đ ợc trích đo theo bản đồ địa chính, có đo đạc thực tế. Diện tích 5.566m2 đất thuộc thửa 255, tờ bản đồ số 21 theo GCNQSDĐ so với diện tích 5.039,4m2 đất theo mảnh trích lục địa chính thì giảm 526,6m2. Diện tích 6.151,6m2 đất thuộc thửa 793, tờ bản đồ số 21 theo GCNQSDĐ so với diện tích 6.146,1 m2 đất theo mảnh trích lục địa chính thì giảm 5,5m2. Nguyên nhân là do tr ớc đ y hi cấp GCNQSDĐ hình thể và diện tích tính bằng ph ơng pháp thủ công nên có sự chênh lệch về diện tích.
Nguyên đơn ông D cho rằng, năm 2010, nguyên đơn và ng ời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà H có nhận chuyển nh ợng của bị đơn ông T phần đất thuộc thửa đất số 717, 732 (thửa 732 đ ợc hợp từ thửa 730, 731) với tổng diện tích 12.893m2, tờ bản đồ số 21, đất tọa lạc tại ấp C, xã T, huyện D, tỉnh Bình D ơng, đất cấp cho nguyên đơn ông D và ng ời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà H. Năm 2019, bị đơn ông T có nhờ nguyên đơn ông D liên ranh đất thì nguyên đơn phát hiện bị đơn đã tự nhổ trụ rào của con đ ờng đi thuộc phần đất của nguyên đơn (con đ ờng đi thuộc phần đất của nguyên đơn có chiều ngang 05m, chiều dài 103m), hiện con đ ờng đi chỉ c n chiều ngang 03m nên nguyên đơn hởi iện yêu cầu bị đơn phải trả lại phần đất qua đo đạc thực tế có diện tích 512,3m2 thuộc một phần thửa đất số 732, tờ bản đồ số 21, đất tọa lạc tại ấp C, xã T, huyện D, tỉnh Bình D ơng.
Theo biên bản iểm tra hiện trạng và diện tích sử dụng đất hi bị đơn làm thủ tục chuyển nh ợng quyền sử dụng đất cho nguyên đơn và ng ời liên quan thì hành lang lộ giới của phần đất chuyển nh ợng là 35m2, phía Đông thửa đất giáp đ ờng giao thông nông thôn 07m2. Theo biên bản xác minh tại Phòng Tài nguyên và Môi tr ờng và Chi nhánh Văn phòng Đăng đất đai huyện D thì căn cứ vào sơ đồ trích đo thửa đất ngày 28/5/2010, hợp đồng chuyển nh ợng quyền sử dụng đất ngày 03/6/2010 và biên bản iểm tra hiện trạng, diện tích sử dụng đất thể hiện trừ hành lang lộ giới 35m2 nên Phòng Tài nguyên và Môi tr ờng và Chi nhánh Văn phòng Đăng đất đai huyện D thống nhất tại thời điểm cấp GCNQSDĐ cho ông D, bà H thì thửa đất số 732 có chiều ngang giáp đ ờng giao thông nông thôn là 05m (do việc trừ hành lang an toàn lộ giới tính từ tim đ ờng vào là 07m, chiều ngang thửa đất là 05m nên hành lang lộ giới 35m2). Nh vậy, phần đất mà nguyên đơn dùng làm lối đi từ thửa 732 ra đ ờng sỏi đỏ có bề ngang giáp đ ờng giao thông nông thôn là 05m.
Tại Mảnh trích lục địa chính có đo đạc chính l số 197-2021 của Chi nhánh Văn ph ng Đăng đất đai huyện D thì phần đất tranh chấp diện tích 337,6m2 thuộc thửa 732 (do nguyên đơn xác định), diện tích 174,7m2 thuộc thửa 732 (do bị đơn xác định). Tổng diện tích tranh chấp là 512,3m2.
Nh vậy, phần đất đang tranh chấp thuộc một phần quyền sử dụng của nguyên đơn ông D và ng ời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà H (thửa số 732). T a án cấp sơ thẩm buộc bị đơn ông T phải trả lại phần đất qua đo đạc thực tế có diện tích 512,3m2 thuộc một phần thửa 732, tờ bản đồ số 21, đất tọa lạc tại ấp C, xã T, huyện D cho ông D là có căn cứ.
Xét yêu cầu “chấm dứt hành vi trái pháp luật” của nguyên đơn:
Theo Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 10/8/2020, các tài sản trên đất tranh chấp gồm có: 03 gốc c y tràm bông vàng có đ ờng ính hoảng 40cm và 09 gốc c y cao su do ông T trồng hoảng 20 năm. Hiện nay các c y này đã bị ông T cắt vào tháng 8/2020. Khi nhận chuyển nh ợng đất năm 2010 thì ông T đã giao đất và c y trồng trên đất cho ông D, bà H nh ng tháng 8/2020 ông T tự cắt bán mà hông hỏi iến ông D, bà H, tuy nhiên giá trị c y hông lớn nên ông D, bà H hông yêu cầu ông T bồi th ờng thiệt hại, nên hông đặt ra xem xét. Tại phiên tòa, ông D, bà H cung cấp thêm chứng cứ là 07 tấm hình ghi lại hình ảnh năm 2019, ông D thuê ông T đóng trụ bê tông, l ới ẽm gai làm ranh đất nh ng từ tháng 02/2020 đến nay hàng rào ẽm gai, trụ bê tông đã bị ông T tự phá bỏ, di dời đi đ u hông rõ, các tài sản này có giá trị hông lớn nên ông D, bà H hông yêu cầu ông T bồi th ờng thiệt hai.
Theo Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 12/3/2021, các tài sản trên đất tranh chấp gồm có 10 c y cao su non do ông T trồng tháng 9/2020, 10 cây cao su non này do ông T tự trồng, hông có sự đồng của ông D, bà H nên T a án cấp sơ thẩm buộc ông T phải tự di dời tài sản trên phần đất 512,3m2 là 10 c y cao su non để trả đất cho ông D và bà H là đúng quy định.
Bị đơn ông T kháng cáo nh ng không cung cấp đ ợc chứng cứ nào hác làm thay đổi nội dung vụ án nên hông có cơ sở chấp nhận háng cáo của bị đơn ông T.
Ý iến của đại diện Viện Kiểm sát tại phiên t a là phù hợp
Án phí phúc thẩm: Ng ời háng cáo phải chịu.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ hoản 1 Điều 148, hoản 1 Điều 308, Điều 313 của Bộ luật Tố tụng d n sự;
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của y ban th ờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản l và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Không chấp nhận háng cáo của bị đơn ông Nguyễn Văn T.
2. Giữ nguyên bản án d n sự sơ thẩm số 06/2022/DS-ST ngày 20/01/2022 của T a án nh n d n huyện D, tỉnh Bình D ơng.
3. Về án phí phúc thẩm : Ông Nguyễn Văn T phải chịu số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) đ ợc hấu trừ vào tiền 300.000 (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo Biên lai số 0007162 ngày 07/02/2022 của Chi cục Thi hành án d n sự huyện D, tỉnh Bình D ơng.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật ể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Bình D ơng; - TAND huyện D; - Chi cục THADS huyện D; - Các đ ơng sự; - L u: HCTP, HSVA, T a D n sự. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Trung Dũng |