- Tranh chấp gì? án hình sự — "Gây rối trật tự công cộng - phạm tội gây rối trật tự công cộng (điều 318 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Lê Quốc T, Nguyễn Thanh Tu và Nguyễn Ngọc H phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự Tịch thu tiêu hủy gồm; Điều 17 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 107/2021/HS-ST. Ngày: 07-12-2021. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Tấn Hiếu.
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Nguyễn Hồng Thơ;
2/ Bà Bùi Thị Hoàng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Vũ H là Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Trần Minh Thắng - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 12 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 86/2021/TLST-HS ngày 01 tháng 9 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 270/2021/QĐXXST-HS, ngày 13 tháng 10 năm 2021, đối với các bị cáo:
1. Lê Quốc T, sinh ngày 12/3/1990, tại Đồng Tháp; tên gọi khác: Nọng; đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: tổ 16, ấp ĐB, xã HA, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam. tôn giáo: không; trình độ học vấn: 6/12; giới tính: Nam; nghề nghiệp: không; cha: Lê Văn H; mẹ: Nguyễn Thị D; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Vào ngày 29/4/2008 bị Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Tháp đưa vào cơ sở giáo dục 24 tháng về hành vi “Gây rối trật tự công cộng”; bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú.
2. Nguyễn Thanh Tu, sinh năm: 1987; tại Đồng Tháp; đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: tổ 16, ấp ĐB, xã HA, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 7/12; nghề nghiệp: thợ sơn tường; cha: Nguyễn Văn T; mẹ: Nguyễn Thị Lệ D; vợ Trần Thị Bích P; con: chưa có; tiền án tiền sự: không; bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú.
3. Nguyễn Ngọc H, sinh ngày: 26/4/1990; tại Đồng Tháp; đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: tổ T, khóm B, phường C, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 8/12; nghề nghiệp: TU xế; cha: Nguyễn Ngọc S; mẹ: Đoàn Thị L; vợ: Nguyễn Thị M; con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú.
Các bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho các bị cáo Lê Quốc T, Nguyễn Thanh T, Nguyễn Ngọc H: Bà Huỳnh Thị Quỳnh H, Luật sư thuộc đoàn Luật sư tỉnh Đồng Tháp, địa chỉ: Số 2AA, đường THD, Phường HT, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp (Có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1/ Nguyễn Phát T, sinh năm 1997, địa chỉ: Ấp TM, xã TT, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp (Vắng mặt).
2/ Nguyễn Thanh TA, sinh năm 2002, địa chỉ: Ấp TM, xã TT, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp (Vắng mặt).
- Người làm chứng:
1/ Nguyễn Thị Hồng H, sinh năm 1962, địa chỉ: Số 81, Tổ TT, Khóm H, Phường G, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp (Vắng mặt).
2/ Nguyễn Đức Th, sinh năm 1991, địa chỉ: Tổ TT, Khóm H, Phường G, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp (Vắng mặt).
3/ Nguyễn Thị Kiều M, sinh năm 1976, địa chỉ: Tổ A, Khóm B, Phường C, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp (Vắng mặt).
4/ Phan Phú Q, sinh năm 1995, địa chỉ: Số A, Tổ B, Khóm C, Phường D, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp (Vắng mặt).
5/ Bùi Thị L, sinh năm 1969, địa chỉ: Tổ B, Khóm C, Phường D, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 16 giờ 30 phút ngày 20/10/2020, Lê Quốc T điều khiển xe mô tô biển số 54L1-0172 chạy trên đường Cái Tôm hướng từ đường Phạm Hữu Lầu về xã Hòa An, thành phố Cao Lãnh. Khi đến đoạn đường đan gần quán Ngọc Sơn thuộc tổ 32, khóm 4, phường 6, thành phố Cao Lãnh thì thấy 02 xe mô tô chạy ngược chiều, trong đó 01 xe loại YAMAHA SIRIUS màu trắng do Nguyễn Thanh TA điều khiển một mình và 01 xe loại WAVE màu đỏ do một người tên Quí chưa rõ nhân thân và địa chỉ cụ thể điều khiển chở bạn của TA tên Nguyễn Phát TU.
Do TA điều khiển xe chạy trước va chạm vào xe của T làm bể bửng xe T, nhưng TA không dừng xe lại mà bỏ chạy về hướng đường Phạm Hữu Lầu, phường 6, thành phố Cao Lãnh nên T quay xe lại chạy đuổi theo xe của TA và TU. Trong lúc đuổi theo, T nhặt 01 khúc cây gỗ tròn dài khoảng 01 mét ở lề đường để chặn đánh TU. Khi T đuổi theo thì bị TU điều khiển xe đâm thẳng vào xe T nhưng T né tránh kịp, sau đó T dùng cây cầm trên tay đánh trúng vào xe của TU nên TU và Quí cùng dừng xe lại. T bỏ xe lại chạy bộ nên TA, TU và Q điều khiển xe rượt đuổi theo để đánh T nhưng không kịp. T chạy thoát rồi gặp hai người bạn là Nguyễn Thanh Tu và Nguyễn Ngọc H kể lại sự việc và rủ hai người này cùng đi đánh nhóm TA. Sau khi T bỏ chạy, TA quay xe lại dùng cây gỗ và đá 4x6 ở lề đường đập phá xe mô tô biển số 54L1-0172 của T rồi cả 03 người lên xe bỏ đi về hướng trường Đại học Đồng Tháp và Quí điều khiển xe về nhà. Khi biết xe mình bị nhóm TA đập phá, T nhặt lấy 02 thanh kim loại (sắt) dài khoảng 60 cm của tiệm cửa sắt ở gần đó và kêu Tu chở T cùng H điều khiển xe tìm nhóm TA để đánh lại.
Đến khoảng 17 giờ 10 phút cùng ngày, khi T, Tu và H chạy xe tìm nhóm của TA đến ngã tư Tân Việt Hòa thuộc tổ 11, khóm 2, phường 6, thành phố Cao Lãnh, cách nơi đánh nhau và đập phá xe ban đầu khoảng 03 km thì gặp TU đang chở TA phía sau. H điều khiển xe áp sát rồi dùng chân đạp vào xe của TU và TA. Lúc này, TA ngồi phía sau xuống xe và tiến đến để đánh nhau với H thì Tu chở T vừa chạy đến, T xuống xe dùng thanh sắt cầm trên tay pH đánh 01 cái trúng vào người TA. TU thấy TA bị đánh nên chạy đến thì bị T dùng thanh sắt đánh trúng vào đầu nên TU bỏ chạy vào nhà của một người dân gần đó trốn. T tiếp tục đuổi theo và dùng thanh sắt tiếp tục đánh trúng TA vào phía sau gáy. Tu cũng vào tham gia dùng nón bảo hiểm đang đội trên đầu đánh TA 01 cái, TA bỏ chạy vào quán cà phê Hương Sen thì T tiếp tục đuổi theo dùng 02 thanh sắt đánh nhiều cái trúng vào người của TA làm TA té ngã tại trước cửa quán cà phê Hương Sen thì được Tu đến can ngăn. Sau đó, T, Tu và H bỏ đi về, còn TA và TU được người dân đưa đi bệnh viện cấp cứu. Sự việc T, Tu và H rượt đánh TA và TU diễn ra khoảng 15 phút đã gây náo loạn trên đường tại thời điểm tan giờ làm việc và tại ngã tư nơi đường giao nhau có đèn tín hiệu giao thông nên có lưu lượng xe lưu thông đông và có nhiều người dân xung quanh chứng kiến sự việc gây bức xúc và gây tâm lý hoang mang lo sợ cho người dân và làm mất an ninh trật tự nên quần chúng nhân dân đã trình báo Công an phường 6, thành phố Cao Lãnh đến lập biên bản vụ việc để xử lý.
Vật chứng thu giữ gồm:
- 01 mũ bảo hiểm màu đen cân nặng 480 gram đã qua sử dụng.
- 02 thanh kim loại (sắt) ống hình chữ nhật (01 cây có kích thước 01cm x 2,5cm x 60cm, cân nặng 360 gram và 01 cây có kích thước 01cm x 2,5cm x 62,5cm, cân nặng 380 gram) đã qua sử dụng.
- 01 xe biển kiểm soát 54L1-0172 màu xám đen đã qua sử dụng.
- 02 viên gạch ống.
- Bửng xe mô tô màu xám đen bị bể.
- 01 khúc gỗ tròn đường kính 05 cm, dài 01 mét.
Tại bản Kết luận định giá TU sản số 220/KL-HĐĐGTS, ngày 16/12/2020 của Hội đồng Định giá TU sản trong tố tụng hình sự thành phố Cao Lãnh đã xác định các phụ tùng trên xe mô tô biển kiểm soát 54L1-0172 của Lê Quốc T do nhóm TA đập phá bị hư hỏng với tổng giá trị 1.650.000 đồng.
Tại các Bản kết luận Giám định pháp y về thương tích số: 23/TgT ngày 06/01/2021 và số: 77/TgT ngày 17/02/2021 của Trung tâm Pháp y, tỉnh Đồng Tháp đã giám định và kết luận tỷ lệ thương tật đối với Nguyễn Phát TU là 01% (một phần trăm) và Nguyễn Thanh TA là 04%.
Sau khi sự việc xảy ra, hai bên đã tự thỏa thuận về mặt dân sự với nhau đã xong không yêu cầu bồi thường gì thêm, đồng thời Nguyễn Phát TU và Nguyễn Thanh TA bãi nại không yêu cầu truy cứu trách nhiện hình sự đối với những người đã đánh gây thương tích cho TU và TA trong sự việc ngày 20/10/2020.
Sau khi sự việc xảy ra ngày 25/02/2021, Ủy ban Nhân dân Phường 6, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp có văn bản đề nghị xử lý hành vi vi phạm pháp luật của các đối tượng gây ảnh hưởng an ninh trật tự xảy ra tại tổ 11, khóm 2, phường 6, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.
Đối với 01 xe mô tô biển số 54L1-0172, Lê Quốc T điều khiển khi thực hiện hành vi phạm tội và đã thu giữ trên, qua làm việc T khai nhận xe do T mua của anh Nguyễn Khắc Anh T ngụ số 270, đường Tạ Quang Bửu, phường 4, quận 8, thành phố Hồ Chí Minh nhưng hiện nay do tình hình dịch bệnh Covid -19 diễn biến phức tạp nên chưa làm việc được với Anh TA. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Lãnh đã chuyển Công an thành phố Cao Lãnh xử lý chiếc xe mô tô biển số: 54l-0172 theo thẩm quyền.
Trong quá trình điều tra các bị cáo Lê Quốc T, Nguyễn Thanh Tu và Nguyễn Ngọc H khai nhận T bộ hành vi như nêu trên, phù hợp với lời khai người làm chứng, vật chứng và các TU liệu chứng cứ khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
Tại cáo trạng số 88/CT-VKSTPCL, ngày 01/9/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh truy tố bị cáo về tội “Gây rối trật tự công cộng”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo như trên. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và các điều 17, 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo T từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù; bị cáo Tu từ 02 đến 02 năm 06 tháng tù; bị cáo H từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù. Về vật chứng đề nghị tuyên như cáo trạng đã nêu.
- Lời bào chữa của Luật sư bào chữa cho các bị cáo: Thống nhất với Kiểm sát viên về tội danh và điều luật áp dụng. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ như các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, đề nghị xem xét các tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, cụ thể như sau
Bị cáo T luôn chấp hành tốt chính sách pháp luật ở địa phương, bản thân là lao động chính trong gia đình, bị cáo hiện nuôi mẹ lớn tuổi, bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn và học vấn thấp.
Bị cáo Tu có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, bác ruột của bị cáo Tu được tặng Huy và kỹ niệm chương chiến sỹ cách mạng bị địch bắt tù, bản thân bị cáo là lao động chính trong gia đình, hiện nay bị cáo nuôi mẹ lớn tuổi, bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, học vấn thấp.
Bị cáo H có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, bị cáo có ông ngoại là liệt sỉ, bản thân bị cáo là lao động chính trong gia đình, bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, học vấn thấp.
Từ những tình tiết giảm nhẹ nêu trên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các bị cáo mức án thấp nhất của khung hình phạt, nhằm tạo điều kiện cho các bị cáo sớm trở về địa phương, hòa nhập cộng đồng.
Tại phiên tòa các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Hành vi của các bị cáo bị truy tố:
Vào khoảng 16 giờ 30 phút ngày 20/10/2020, do nhóm người của Nguyễn Phát TU và Nguyễn Thanh TA điều khiển xe tham gia giao thông va chạm với xe mô tô do Lê Quốc T điều khiển tại đường đal thuộc tổ 32, khóm 4, phường 6, thành phố Cao Lãnh, dẫn đến mâu thuẫn đánh nhau và đập phá xe của T bị hư hỏng thiệt hại 1.600.000 đồng. Đến khoảng 17 giờ 10 phút cùng ngày, T rủ bạn là Tu và H mang theo 02 thanh sắt, nón bảo hiểm làm hung khí đến chặn xe đánh TU và TA gây thương tích tại ngã tư nơi đường giao nhau có đèn tín hiệu giao thông thuộc tổ 11, khóm 2, phường 6, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp làm mất an ninh trật tự, gây náo loạn trên đường trong giờ cao điểm có nhiều người điều khiển xe lưu thông và nhiều người dân xung quanh chứng kiến, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an T xã hội tại nơi xảy ra vụ án.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận hành vi nêu trên phù hợp với lời khai người liên quan, người làm chứng và các TU liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Trong quá trình điều tra, truy tố, Điều tra viên và Kiểm sát viên tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; tại phiên tòa Kiểm sát viên đã thực hiện đúng với quyền hạn và nhiệm vụ theo quy định.
Các bị cáo là người đã thành niên, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo quy định, các bị cáo đã có hành vi dùng 02 thanh sắt và nón bảo hiểm là hung khí đến chặn xe đánh TU và TA gây thương tích tại ngã tư nơi đường giao nhau có đèn tín hiệu giao thông thuộc tổ 11, khóm 2, phường 6, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp, làm mất an ninh trật tự, gây náo loạn trên đường trong giờ cao điểm có nhiều người điều khiển xe lưu thông và nhiều người dân xung quanh chứng kiến, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an T xã hội tại nơi xảy ra vụ án.
Từ những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử kết luận hành vi phạm tội của các bị cáo đã phạm vào tội “Gây rối trật tự công cộng”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến trật tự công cộng của Nhà nước, mà còn gây mất trật tự ở địa phương. Do đó, cần có mức án tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà các bị cáo đã thực hiện, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, nhằm cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành người công dân tốt và răn đe, phòng ngừa chung cho toàn xã hội.
Trong vụ án này, các bị cáo không có phân công hay bàn bạc trước, mà cùng nhau thực hiện hành vi phạm tội, do đó đây là vụ án đồng phạm giản đơn. Tuy nhiên, bị cáo T là người đề xuất, rủ rê các bị cáo Tu và H, nên pH chịu mức hình phạt nặng hơn các bị cáo Tu và H.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội, các bị cáo đều có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, các bị cáo còn có những tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, cụ thể như sau
- Bị cáo T là lao động chính trong gia đình, bị cáo hiện nuôi mẹ lớn tuổi, bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn và học vấn thấp.
- Bị cáo Tu có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; bác ruột của bị cáo Tu được tặng Huy và kỹ niệm chương chiến sỹ cách mạng bị địch bắt tù; bản thân bị cáo là lao động chính trong gia đình; hiện nay bị cáo nuôi mẹ lớn tuổi, bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, học vấn thấp.
- Bị cáo H có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; bị cáo có ông ngoại là liệt sỉ; bản thân bị cáo là lao động chính trong gia đình, bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, học vấn thấp.
Xét lời bào chữa của Luật sư: Như đã phân tích trên, lời bào chữa của Luật sư là có căn cứ chấp nhận.
Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy các vật chứng thu giữ không còn giá trị sử dụng gồm: 01 mũ bảo hiểm màu đen đã qua sử dụng; 02 thanh kim loại ống hình chữ nhật (01 thanh có kích thước 01cm x 2,5cm x 60cm, cân nặng 360 gram và 01 thanh có kích thước 01cm x 2,5cm x 62,5cm, cân nặng 380 gram) đã qua sử dụng; 02 viên gạch ống; 01 khúc gỗ tròn đường kính 05 cm, dài 01 mét.
Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17 và Điều 58 Bộ luật Hình sự.
- Tuyên bố các bị cáo Lê Quốc T, Nguyễn Thanh Tu và Nguyễn Ngọc H phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
- Xử phạt bị cáo Lê Quốc T 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt tù.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh Tu 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt tù.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc H 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt tù.
- Về vật chứng: Căn cứ khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự
Tịch thu tiêu hủy gồm: 01 mũ bảo hiểm màu đen cân nặng 480gam đã qua sử dụng; 02 thanh kim loại ống hình chữ nhật (01 thanh có kích thước 01cm x 2,5cm x 60cm, cân nặng 360 gram và 01 thanh có kích thước 01cm x 2,5cm x 62,5cm, cân nặng 380 gram) đã qua sử dụng; 02 viên gạch ống; 01 khúc gỗ tròn đường kính 05 cm, dài 01 mét.
(Các vật chứng hiện đang được chi cục thi hành án dân sự thành phố Cao Lãnh đang tạm quản lý).
- Về án phí: Các bị cáo T, Tu và H, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (vắng mặt tại phiên tòa) có quyền kháng cáo phần liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc niêm yết bản án.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND TPCL; - Công an TPCL; - Đương sự; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Tấn Hiếu |