vanban.org

Bản án 107/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lưu Thị Mỹ L đối với anh Nguyễn Lam S. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lưu Thị Mỹ L được ly hôn với anh Nguyễn Lam S. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHỢ MỚI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 107/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 23/3/2021
V/v tranh chấp ly hôn, về nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Anh Thư.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Hoàng Thị Thiện Lai;

2. Ông Huỳnh Tấn Khoa.

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Tấn Kiệt, Thư ký Toà án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Lê Hoàng Vỉnh – Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 3 năm 2021 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Chợ Mới xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 763/2020/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 10 năm 2020 về tranh chấp “ly hôn, về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 84/2021/QĐXX-ST ngày 03 tháng 02 năm 2021, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Lưu Thị Mỹ L, sinh năm 1979; địa chỉ: ấp L, xã B, huyện C, tỉnh An Giang; địa chỉ liên lạc: số 341, tổ 13, ấp Q, xã B, huyện C, tỉnh An Giang (Có yêu cầu xét xử vắng mặt).

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Lam S, sinh năm 1978; địa chỉ: ấp L, xã B, huyện C, tỉnh An Giang (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, tờ tự khai nguyên đơn chị Lưu Thị Mỹ L trình bày: Chị và anh Nguyễn Lam S do mai mối, tổ chức lễ cưới và chung sống với nhau vào năm 2000, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Vợ chồng sống hạnh phúc đến cuối năm 2019 năm thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do anh S không chăm chí thú làm ăn, chỉ biết ăn chơi, cờ bạc và không quan tâm gia đình nên vợ chồng thường hay cãi nhau dẫn đến vợ chồng mâu thuẫn ngày càng nhiều và không còn chung sống từ đó đến nay. Nay, nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, chị yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Lam S. Về quan hệ con chung: Trong thời gian chung sống, vợ chồng có 02 con chung tên Nguyễn Văn V, sinh ngày 09/01/2002 (hiện đã thành niên có khả năng lao động nuôi sống bản thân, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết) và Nguyễn Thị A, sinh ngày 02/11/2007 (hiện do chị L chăm sóc, nuôi dưỡng). Khi ly hôn, chị L yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con chung. Về quan hệ tài sản chung: Không có. Về quan hệ nợ chung: Không có.

Tại phiên tòa, chị L có văn bản yêu cầu xét xử vắng mặt và giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Bị đơn anh Nguyễn Lam S được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên h p kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng anh S vẫn vắng mặt nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến và không hòa giải được.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng. Về ý kiến giải quyết: Về hôn nhân: Bà Lưu Thị Mỹ L, ông Nguyễn Lam S, do mai mối và tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn ngày 08/02/2013 tại Ủy ban nhân dân xã B là hôn nhân hợp pháp được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Trong quá trình chung sống vợ chồng thường bất hòa, ông S không chăm lo gia đình, cờ bạc. Bà L đã khuyên ngăn nhiều lần nhưng không được. Nay, nhận thấy tình cảm không còn nên bà L yêu cầu ly hôn với ông S. Xét thấy, trong thời gian bà L gửi đơn khởi kiện, ông S biết nhưng không tạo điều kiện hàn gắn hạnh phúc vợ chồng và không có ý kiến ghi nhận của mình về yêu cầu ly hôn của bà L. Mặt khác, bà L xác định không còn tình cảm với ông S, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà L đối với ông S. Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Văn V, sinh ngày 09/01/2002 (hiện đã thành niên có khả năng lao động nuôi sống bản thân và gia đình), Nguyễn Thị A, sinh ngày 02/11/2007, hiện do chị L chăm sóc, nuôi dưỡng. Khi ly hôn, bà L yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông S cấp dưỡng nuôi con chung. Xét thấy, cháu Vũ hiện đã thành niên có khả năng lao động nuôi sống bản thân và gia đình nên không đề cập đến. Đối với cháu Nguyễn Thị A, hiện sống với bà L phát triển tốt về thể chất và tinh thần và cháu có nguyện v ng được sống với mẹ, để ổn định cuộc sống cho cháu A, nghĩ nên để bà L tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cháu. Do bà L không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không đề cập đến. Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không đề cập giải quyết.

Từ những phân tích nêu trên, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình, quyết định: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Lưu Thị Mỹ L đối với ông Nguyễn Lam S. Bà Lưu Thị Mỹ L được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Thị A, sinh ngày 02/11/2007; ông Nguyễn Lam S không phải cấp dưỡng nuôi con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

1 Chị Lưu Thị Mỹ L yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Lam S, anh S có nơi cư trú ấp L, xã B, huyện C, tỉnh An Giang nên Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 28, Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

2 Nguyên đơn chị Lưu Thị Mỹ L có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, bị đơn anh Nguyễn Lam S được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 để tham gia phiên tòa, nhưng vẫn vắng mặt không lý do. Căn cứ vào Điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị L, anh S là có căn cứ.

3 Chị Lưu Thị Mỹ L yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Lam S. Chị L và anh S có đăng ký kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình nên quan hệ hôn nhân giữa hai người được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Theo chị L trình bày, vợ chồng sống hạnh phúc đến cuối năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do anh S không chí thú làm ăn, chỉ biết cờ bạc, không quan tâm gia đình nên mâu thuẫn ngày càng nhiều hơn và không còn chung sống từ cuối năm 2019 đến nay. Nhận thấy, tình cảm không còn, chị yêu cầu ly hôn với anh S. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tống đạt thông báo thụ lý vụ án về việc chị L yêu cầu ly hôn và triệu tập anh S tham gia các phiên h p về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ, hòa giải và tham gia phiên tòa, nhưng anh S vẫn vắng mặt và không có ý kiến phản đối yêu cầu ly hôn của chị L. Hội đồng xét xử xét thấy, mâu thuẫn giữa chị L và anh S đã diễn ra trong thời gian dài, nguyên nhân do anh S không chí thú làm ăn, không quan tâm đến gia đình nên thường cãi nhau, dẫn đến tình cảm vợ chồng ngày mâu thuẫn nhiều hơn và không còn chung sống từ cuối năm 2019 đến nay. Trong thời gian này, hai bên cũng không tạo điều kiện cho nhau hàn gắn tình cảm vợ chồng, mục đích hôn nhân không đạt được, nếu chung sống với nhau cũng không hạnh phúc. Căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị L là ph hợp theo quy định pháp luật.

Về quan hệ con chung: Chị L xác định, trong thời gian chung sống, vợ chồng có 02 con chung tên Nguyễn Văn V, sinh ngày 09/01/2002 (hiện đã thành niên có khả năng lao động nuôi sống bản thân, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết) và Nguyễn Thị A, sinh ngày 02/11/2007 (hiện do chị L chăm sóc, nuôi dưỡng). Khi ly hôn, chị L yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Hội đồng xét xử xét thấy, cháu Vũ do đã thành niên và chị L không có yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập đến. Riêng, đối với cháu A, từ khi vợ chồng không còn sống chung với nhau, cháu A do chị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng nên tâm tư tình cảm của cháu gắn liền với người nuôi dưỡng và trong quá trình giải quyết anh S cũng không có ý kiến phản đối yêu cầu này của chị L. Bên cạnh đó, cháu A cũng có nguyện v ng được sống c ng mẹ. Do đó, để chị L tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cháu A là ph hợp với pháp luật và nguyện v ng của cháu.

5 Đối với cấp dưỡng nuôi con chung: Do chị L không có yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.

6 Về quan hệ tài sản chung: Chị L trình bày không có, nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.

7 Về quan hệ nợ chung: Chị L trình bày không có, nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.

8 Án phí hôn nhân sơ thẩm: Đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: - Các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 144, Điều 147, Điều 227, Điều 228 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

- Các Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình 2014;

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lưu Thị Mỹ L đối với anh Nguyễn Lam S.

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Lưu Thị Mỹ L được ly hôn với anh Nguyễn Lam S.

Giấy chứng nhận kết hôn số 17, quyển số 1, ngày 08 tháng 02 năm 2013 do Ủy ban nhân dân xã B, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang cấp cho chị Lưu Thị Mỹ L và anh Nguyễn Lam S không còn giá trị pháp lý.

- Về quan hệ con chung: Chị Lưu Thị Mỹ L được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung Nguyễn Thị A, sinh ngày 02/11/2007 (hiện do chị L chăm sóc, nuôi dưỡng). Anh Nguyễn Lam S không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Chị Lưu Thị Mỹ L c ng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở anh Nguyễn Lam S trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

- Về quan hệ tài sản chung: Không có.

- Về quan hệ nợ chung: Không có. Ghi nhận việc chị Lưu Thị Mỹ L xác định không có nợ chung trong thời kỳ hôn nhân, nhưng sau khi quyết định ly hôn có hiệu lực pháp luật, nếu có người khởi kiện xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, thì chị Lưu Thị Mỹ L và anh Nguyễn Lam S phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.

- Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, chị Lưu Thị Mỹ L phải chịu, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, theo biên lai thu số 0013664 do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang cấp ngày 20/10/2020. Chị L đã nộp đủ án phí.

Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày tuyên án. Riêng đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ