- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Lan A.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ GẠO TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 107/2021/HN-ST Ngày: 9/3/2021 V/v “Xin ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ GẠO, TỈNH TIỀN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Cẩm Tiên.
Các Hội thẩm nhân dân:
+ Bà Lê Thị Ngọc Ánh
+ Ông Mai Lưu Quốc Đạt
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Nguyễn Ái Quyên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo;
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạo tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Phụng – Kiểm sát viên.
Ngày 9 tháng 03 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân thụ lý số 612/2020/TLST-HN ngày 24/11/2020 về việc “Xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 01 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 27/2021/QĐST-HN ngày 19 tháng 02 năm 2021 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Nguyễn Thị Lan A – sinh năm: 1979 (có mặt)
Trú tại: ấp M, xã N, huyện X, Tiền Giang.
2. Bị đơn: Phạm Thanh B - sinh năm 1977 (vắng mặt)
Trú tại: ấp M, xã N, huyện X, Tiền Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Lan A trình bày: chị và anh B sống chung năm 2001, có đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống hạnh phúc đến năm 2004 thì phát sinh mâu thuẩn do anh B không lo cho gia đình, vợ con, thường xuyên nhậu về nhà kiếm chuyện đánh chị, ngoài ra anh B còn có tính ghen tuông vô cớ, nghi ngờ chị có quan hệ tình cảm với người khác. Hiện nay vợ chồng không còn quan tâm tới nhau. Chị và anh B ly thân từ năm 2018 đến nay. Nhận thấy tình cảm không còn nên chị yêu cầu ly hôn với anh B.
- Về con chung: có hai cháu tên Phạm Thị Kim C, sinh ngày 28/11/2001 đã trưởng thành và Phạm Thanh D, sinh ngày 28/2/2004 hiện nay đang sống với chị và anh B. Ly hôn cháu D muốn sống với ba hay mẹ do cháu quyết định, nếu sống với chị thì chị không yêu cầu anh B cấp dưỡng.
- Về tài sản chung: không yêu cầu giải quyết.
- 2 -
- Về nợ chung, nợ riêng: không có.
* Bị đơn anh Phạm Thanh B vắng mặt.
* Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến: Việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; Thư ký, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều tuân thủ đúng quy định pháp luật.
Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Lan A. Về con chung: cháu Phạm Thị Kim C, sinh ngày 28/11/2001 đã trưởng thành nên không xem xét, giao cháu Phạm Thanh D, sinh ngày 28/2/2004 cho chị A nuôi dưỡng, anh B không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung: không yêu cầu giải quyết, nợ chung, nợ riêng không có nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Qua nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra cũng như tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Chị Nguyễn Thị Lan A và anh Phạm Thanh B sống chung năm 2001 và anh chị có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N. Nay chị A yêu cầu ly hôn với anh B và anh B cư trú trên địa bàn huyện Chợ Gạo nên vụ án này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Bị đơn anh Phạm Thanh B mặc dù được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vẫn vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh B theo quy định tại điểm b khoản 2 điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Xét đơn yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Lan A, Hội đồng xét xử thấy rằng: Về tình cảm: chị A yêu cầu ly hôn với anh B. Nguyên nhân ly hôn chị A trình bày là do anh B không có quan tâm đến gia đình, vợ con, thường xuyên nhậu về nhà kiếm chuyện đánh chị, ngoài ra anh B còn có tính ghen tuông, nghi ngờ chị đi làm có quan hệ tình cảm với người khác, từ đó vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn và ly thân từ năm 2018 đến nay. Anh B vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án và cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu ly hôn của chị A, điều này chứng tỏ anh không còn thiết tha gì đến tình cảm vợ chồng cũng như xây dựng hạnh phúc gia đình với chị A, hơn nữa trong thời gian ly thân, anh B chị A không có biện pháp nào để hàn gắn tình cảm với nhau, cho thấy giữa anh chị trong cuộc sống đã có mâu thuẫn xảy ra. Do đó đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, anh B, chị A không thể cùng chung sống để xây dựng gia đình hạnh phúc nên chị A yêu cầu ly hôn với anh B là có căn cứ chấp nhận.
Về con chung: có hai con chung tên Phạm Thị Kim C, sinh ngày 28/11/2001 và Phạm Thanh D, sinh ngày 28/2/2004. Cháu C đã trưởng thành nên Hội đồng xét xử không xem xét. Ly hôn chị A trình bày là cháu D muốn sống với ba hay mẹ do cháu quyết định. Tại bản tự khai cháu D trình bày là có nguyện vọng sống với mẹ, chị A đồng ý nuôi cháu nên Hội đồng xét xử giao cháu D cho chị A
- 3 -
trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc. Về vấn đề cấp dưỡng: chị A không yêu cầu nên anh B không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: chị A trình bày không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về nợ chung, nợ riêng: chị A trình bày không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Xét ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát.
Về án phí: chị A phải chịu án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng các khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 và điểm b khoản 2 điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình;
- Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Xử: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Lan A.
[1] Về tình cảm: chị Nguyễn Thị Lan A được ly hôn với anh Phạm Thanh B.
[2] Về con chung: cháu Phạm Thị Kim C, sinh ngày 28/11/2001 hiện nay đã trưởng thành. Giao cháu Phạm Thanh D, sinh ngày 28/2/2004 cho chị Nguyễn Thị Lan A trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Phạm Thanh B không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Không ai được quyền ngăn cản việc thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung sau khi ly hôn.
[3] Về án phí: chị Nguyễn Thị Lan A phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0004427 ngày 23/11/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Gạo nên chị đã nộp xong án phí.
Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tòa tuyên án. Đối với bị đơn anh Phạm Thanh B thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án Dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự./.
- 4 -
| * Nơi nhận: - TAND tỉnh Tiền Giang; - VKSND huyện Chợ Gạo; - Chi cục THADS huyện Chợ Gạo; - UBND xã N; - Ñöông söï; - Löu hoà sô, án văn; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Phan Thị Cẩm Tiên |