vanban.org

Bản án 107/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai Tuyên án 21/07/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tất T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Tất T 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi thi hành án. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và l… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Tất T - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BL…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tất T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 134 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LONG THÀNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐỒNG NAI
Bản án số: 107/2020/HS-ST
Ngày 21-7-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Bùi Thị Minh Thảo

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Văn Huynh

Bà Lý Thị Bạch Tuyết

- Thư ký phiên tòa: Bà Lý Kim Yến - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Trần Tiến Dũng - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Thành xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 80/2020/HSST ngày 19 tháng 5 năm 2020 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 115/2020/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 7 năm 2020 đối với bị cáo:

Nguyễn Tất T, sinh năm 1997 tại tỉnh Đ; Nơi cư trú: Tổ 20, khu K, thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Nai; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Lớp 8/12; Nghề nghiệp: Công nhân; Con ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1966 và bà Quốc Thị Kim O, sinh năm 1964; Vợ con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú tại thị trấn Long Thành, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

- Bị hại:

1. Anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1998.

Địa chỉ: Ấp 4, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Nai (Vắng mặt).

2. Anh Nguyễn Đức C, sinh năm 1998.

Địa chỉ: Ấp 1, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Nai (Vắng mặt).

- Người làm chứng:

1. Anh Lý Thái B, sinh năm 1997.

Địa chỉ: Ấp 1, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Nai (Vắng mặt).

2. Ông Huỳnh Ngọc E, sinh năm 1970

Địa chỉ: Ấp 6, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Nai (Vắng mặt).

3. Anh Nguyễn Hữu T, sinh năm 1987.

Địa chỉ: Ấp 6, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Nai (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lúc 20 giờ 30 phút ngày 12/6/2019, Nguyễn Hữu T và Nguyễn Tất T sau khi đi uống rượu về đến quán bida tại Ấp 1, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Nai thì thấy Nguyễn Văn L và Lý Thái B đang chơi bida. T rủ L và B đi uống rượu nhưng L và B không đồng ý nên T dùng tay xua banh bida trên bàn không cho L và B chơi nữa. Thấy T đã say rượu nên L và B bỏ đi đến quán nước của ông Huỳnh Ngọc E ở Ấp 6, xã T, huyện L uống cà phê. Khoảng 20 giờ 45 phút, T và T cũng đi đến quán của ông Huỳnh Ngọc E để uống cà phê thì gặp lại B, L và Nguyễn Đức C. Tại đây, T tiếp tục có lời lẽ cãi nhau qua lại với B và L. T dùng 01 cái ghế nhựa ném về phía B nhưng không trúng. Tiếp đó, T đi đến chỗ L đang nằm võng, dùng tay đánh trúng mặt của L 01 cái, Lâm bị té xuống đất rồi đứng dậy dùng tay đánh nhau với T. Thấy vậy, Nguyễn Đức C chạy lại cùng với L đánh T, T bỏ chạy qua đường vào nhà người dân trốn. Cùng lúc này, T xông vào đánh L, C và bị L, C đánh lại. T chạy vào quầy quán nước của ông E lấy 01 con dao Thái Lan rồi chạy ra đường đâm 01 cái trúng bụng của C và đâm 01 cái trúng đùi trái của L làm L bỏ chạy khoảng 07m thì bị té ngã đập đầu gối xuống đường bê tông. Sau đó, T điều khiển xe mô tô đi về nhà còn C và L được mọi người đưa đi cấp cứu.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 0652/TgT/2019 ngày 23/7/2019 của Trung tâm pháp y Sở y tế Đồng Nai kết luận thương tích của Nguyễn Đức C như sau:

Vết thương thấu bụng gây rách động mạch mạc nối lớn phải phẫu thuật mở ổ bụng cầm máu (Áp dụng Chương 5, điều X, mục 3.1). Tỷ lệ 26%.

Vết thương bụng trái để lại sẹo kích thước 1,5 x 0,6cm (Áp dụng Chương 9, điều I, mục 1). Tỷ lệ 01%.

Tỷ lệ tổn thương cơ thể (Áp dụng theo phương pháp cộng lùi) do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là: 27%.

- Vật gây thương tích: Vật sắc nhọn.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 0709/TgT/2019 ngày 13/8/2019 của Trung tâm pháp y Sở y tế Đồng Nai kết luận thương tích của Nguyễn Văn L như sau:

- Tổn thương gãy (vỡ) xương bánh chè phải đã phẫu thuật kết hợp xương hiện can tốt, bề mặt không di lệch (Áp dụng Chương 8, điều VII, mục 19.1). Tỷ lệ: 04%.

- Sẹo đùi trái kích thước 2,5 x 0,5cm (Áp dụng Chương 9, điều I, mục 1). Tỷ lệ 01%.

2. Tỷ lệ tổn thương cơ thể (Áp dụng theo phương pháp cộng lùi) do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là: 05%.

- Vật gây thương tích: Thương tích đùi trái do vật sắc nhọn; Thương tích gối phải do vật tày.

Vật chứng vụ án: 01 con dao Thái Lan, T đã vứt bỏ trên đường đi về nhà (không xác định được địa điểm cụ thể) nên không thu hồi được.

Quá trình điều tra còn tạm giữ của Nguyễn Hữu T 01 điện thoại hiệu Samsung và 01 sim số thuê bao 09026241BB, xét không liên quan đến vụ án nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Long Thành đã trả lại cho T.

Tại bản Cáo trạng số 92/CT-VKSLT ngày 06 tháng 5 năm 2020, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Long Thành đã truy tố bị cáo Nguyễn Tất T về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Long Thành giữ nguyên quyết định truy tố theo bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự tuyên phạt: Bị cáo Nguyễn Tất T từ 03 (ba) năm đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Gia đình bị cáo T đã bồi thường cho anh C số tiền 45.000.000 đồng và bồi thường cho anh L số tiền 15.000.000 đồng. Người bị hại anh C và anh L không có yêu cầu bồi thường gì thêm.

Bị cáo Nguyễn Tất T nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thức được hành vi của bị cáo là sai, kính mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Tất T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với nội dung bản cáo trạng, biên bản khám nghiệm hiện trường và các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Khoảng 20 giờ 45 phút, tại quán nước của ông Huỳnh Ngọc E ở Ấp 6, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Nai, Nguyễn Hữu T có hành vi đánh nhau qua lại bằng tay với Nguyễn Đức C và Nguyễn Văn L. Sau đó, T không đánh nhau nữa mà bỏ chạy vào nhà người dân trốn. Cùng lúc này, Nguyễn Tất T (bạn của T) xông vào đánh nhau với C và L. T lấy 01 con dao Thái Lan ở trên quầy bán nước đâm 01 cái trúng bụng của C và đâm 01 cái trúng đùi trái của L làm L bỏ chạy khoảng 07m thì bị té ngã đập đầu gối xuống đường bê tông. Sau đó, T điều khiển xe mô tô đi về nhà còn C và L được mọi người đưa đi cấp cứu. Tại các bản kết luận giám định pháp y về thương tích xác định thương tích của C là 27% và L 05%. Như vậy, Hội đồng xét xử đã có đủ căn cứ kết luận bị cáo Nguyễn Tất T đã phạm tội “Cố ý gây thương tích”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về tình tiết định khung hình phạt: Bị cáo không có mâu thuẫn gì với người bị hại là anh C và anh L nhưng đã sử dụng dao Thái Lan là hung khí nguy hiểm gây thương tích cho anh C và anh L với tỷ lệ tổn thương cơ thể của anh C là 27%, tỷ lệ tổn thương cơ thể của anh L là 5% nên thuộc trường hợp định khung hình phạt tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tính tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả; tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; nhân thân bị cáo chưa tiền án tiền sự; ông nội và cha của bị cáo là người có công với cách mạng là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên cần xem xét khi quyết định hình phạt.

Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm, đã xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe của người bị hại được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh, trật tự xã hội tại địa phương. Do đó, cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Về trách nhiệm dân sự: Gia đình bị cáo T đã bồi thường cho người bị hại C số tiền 45.000.000 đồng và bồi thường cho người bị hại L số tiền 15.000.000 đồng. Anh C và anh L không có yêu cầu bồi thường gì thêm về dân sự nên không xét.

Đối với Nguyễn Hữu T có hành vi đánh nhau với C và L trước khi T có hành vi gây thương tích, T và T không bàn bạc trước và tại thời điểm T dùng dao đâm C và L thì T không biết nên T không có hành vi đồng phạm với T, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Long Thành đã ban hành Quyết định xử phạt hành chính đối với T về hành vi đánh nhau là phù hợp.

Về hành vi, Quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về án phí: Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội và bị kết án nên phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tất T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Tất T 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi thi hành án.

Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn Tất T phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người bị hại anh C và anh L được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ