- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "chị NTL yêu cầu ly hôn anh LĐB"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của chị NTL đối với anh LĐB.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUYÊN MỘC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU Bản án số: 107/2020/HNGĐ-ST Ngày: 28/9/2020. V/v: “ Yêu cầu ly hôn, tranh chấp nuôi con ”. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUYÊN MỘC – TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Ngọc Tuấn.
Các hội thẩm nhân dân:
Bà Trịnh Thị Mai Hương.
Bà Đoàn Thị Mến.
Thư ký phiên tòa: Bà Danh Thị Ngọc Lệ – Thư ký tòa án nhân dân huyện XM, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện XM tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Đình Luyến – Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 9 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện XM, xét xử sơ thẩm vụ án hôn nhân – gia đình thụ lý số: 329/2020/TLST – HNGĐ ngày: 26/6/2020, về việc: “ Yêu cầu ly hôn, tranh chấp nuôi con ”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 105/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày: 19/8/2020, Quyết định hoãn phiên toà số:93/2020/QĐST-HNGĐ ngày: 11/9/2020, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: NTL, sinh năm: 1979 – ( Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
Hộ khẩu thường trú: Tổ 5, ấp TH, xã BT, huyện XM, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
Chỗ ở hiện nay : xã BR, huyện XM, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
Bị đơn: LĐB, sinh năm: 1977 – ( Vắng mặt ).
Hộ khẩu thường trú: Tổ 5, ấp TH, xã BT, huyện XM, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện ngày 23/6/2020, bản khai, biên bản hoà giải trong quá trình tố tụng tại Tòa án. Nguyên đơn chị NTL trình bày: Chị L kết hôn với anh B vào năm 2002 có đăng ký kết hôn tại UBND xã BR, huyện XM, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, trước lúc kết hôn có tìm hiểu nhau, gia đình hai bên đều biết và đồng ý. Việc kết hôn của anh chị là hoàn toàn tự nguyện, không có ai mai mối, ép buộc.
Sau khi kết hôn anh chị sống hạnh phúc được đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh B không lo làm ăn mà sa vào rượu chè, nhậu nhẹt không lo làm ăn, khi uống rượu say thường đánh đập chị L. Mặc dù chị L đã góp ý nhiều lần nhưng anh B vẫn không tiếp thu để sửa chữa mà tình trạng đó cứ kéo dài. Vì vậy, từ đầu năm 2020 cho đến nay nên vợ chồng sống ly thân nhau. Hai bên không còn quan hệ gì với nhau nữa cả về tình cảm lẫn kinh tế.
Đến nay xét thấy tình cảm vợ chồng thực sự không còn nên chị L yêu cầu ly hôn với anh B.
Về con chung: Anh chị có 02 con chung cháu tên là: LĐD, sinh ngày: 12/11/2004 và LTML, sinh ngày: 18/8/2007. Hiện nay đang sống cùng với chị L, nếu ly hôn chị L yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cả 02 con chung, không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị L và anh B tự thoả thuận giải quyết với nhau chưa yêu cầu Toà án giải quyết.
Anh LĐB đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt.
Tại phiên toà hôm nay anh B vẫn vắng mặt dù đã được triệu tập hợp lệ.
Quan điểm của vị đại diện VKS tham gia phiên toà: Việc tuân theo pháp luật của thẩm phán và HĐXX: thẩm phán và HĐXX đã tuân thủ đúng theo những quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án.
Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình. Bị đơn không chấp hành theo sự triệu tập của Toà án dù đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần là chưa chấp hành pháp luật, chưa thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về yêu cầu của đương sự: Yêu cầu của chị L là có căn cứ, đề nghị HĐXX xem xét quyết định.
NHẬN XÉT CỦA TOÀ ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền và thủ tục tố tụng: Chị NTL khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết cho chị L ly hôn với anh LĐB và yêu cầu được nuôi dưỡng con chung. Đây là tranh chấp về yêu cầu ly hôn và tranh chấp nuôi con, theo quy định tại khoản 1 điều 28 và điểm a khoản 1 điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện XM, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
Chị L có đơn đề nghị xét xử vắng mặt ( Bút lục số: 27 ), anh B đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Áp dụng Khoản 1, Điểm b Khoản 2 Điều 227; Khoản 1, Khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị L và anh B.
[2] Về nội dung: Hôn nhân giữa chị L và anh B là hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định ( Bút lục số: 01 ) nên là hôn nhân hợp pháp.
Về mâu thuẫn vợ chồng: Theo chị L trình bày là do Biền không lo làm ăn mà sa vào rượu chè, nhậu nhẹt không lo làm ăn, khi uống rượu say thường đánh đập chị L. Mặc dù chị L đã góp ý nhiều lần nhưng anh B vẫn không tiếp thu để sửa chữa mà tình trạng đó cứ kéo dài. Vì vậy, từ đầu năm 2020 cho đến nay nên vợ chồng sống ly thân nhau. Hai bên không còn quan hệ gì với nhau nữa cả về tình cảm lẫn kinh tế. Điều này cũng phù hợp với kết quả xác minh tại địa phương là: “ Anh B hay uống rượu say xỉn về đánh đập vợ con ” ( Bút lục số: 26 ).
Điều đó chứng tỏ anh B vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ làm chồng, có hành vi bạo lực gia đình. Làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, việc chị L yêu cầu ly hôn với anh B là có căn cứ nên chấp nhận yêu cầu của chị L. Về hôn nhân chị L được ly hôn với anh B.
[3] Về con chung: Có 02 con chung là: LĐD, sinh ngày: 12/11/2004 và LTML, sinh ngày: 18/8/2007. Hiện nay đang sống cùng với chị L, nếu ly hôn chị L yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cả 02 con chung.
Xét thấy: Anh B không có mặt nên không thể hiện được ý chí, nguyện vọng của mình là có muốn nuôi con hay không. Mặt khác, từ khi ly thân đến nay chị L là người trực tiếp nuôi dưỡng cả 02 con chung, nếu giao cho anh B nuôi dưỡng sẽ làm xáo trộn nếp sống, sinh hoạt bình thường của 02 cháu. Mặt khác, việc chị L yêu cầu được nuôi dưỡng cả 02 con chung cũng phù hợp với nguyện vọng của cháu D và cháu L ( Bút lục số: 23,24 ). Do đó, giao cháu D, cháu L cho chị L tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp. Vì vậy, giao cháu D, cháu L cho chị L tiếp tục nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con: Do chị L tự nguyện không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con, nên HĐXX không xem xét.
[4] Về tài sản chung và nợ chung: Chị L chưa yêu cầu Toà án giải quyết nên HĐXX không xem xét. Nếu sau này hai bên có tranh chấp về vấn đề này thì khởi kiện vụ kiện dân sự khác theo quy định.
[5] Về án phí: Do là nguyên đơn nên chị L phải chịu án phí theo quy định.
Nguyên đơn và bị đơn được quyền kháng cáo theo luật định.
Vì những lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; Khoản 1, Điểm b Khoản 2 Điều 227; Khoản 1, Khoản 3 Điều 228; Khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự.
Điều 56; Điều 59; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu của chị NTL đối với anh LĐB.
[1] Về hôn nhân: Chị NTL được ly hôn với anh LĐB.
[2] Về con chung: Có 02 con chung là: LĐD, sinh ngày: 12/11/2004 và LTML, sinh ngày: 18/8/2007. Hiện nay đang sống cùng với chị L.
Chị L được quyền tiếp tục nuôi dưỡng cả 02 con chung, tự nguyện không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con.
Anh B được quyền lui tới thăm và chăm sóc con chung, không ai được quyền ngăn cấm, cản trở.
Vì lợi ích của con chung trong quá trình chăm sóc và nuôi dưỡng cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.
[3] Về tài sản chung và nợ chung: Chị L tự thoả thuận giải quyết với anh B chưa yêu cầu Toà án giải quyết.
[4] Về án phí: Chị L phải nộp 300.000Đ ( Ba trăm ngàn ) án phí HNGĐST nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000Đ ( Ba trăm ngàn ) mà chị L đã nộp theo biên lại thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số: 0008493 ngày 23/6/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện XM. Chị L đã nộp đủ án phí.
[5] Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án ( Những người vắng mặt tại phiên toà thời hạn trên được tính từ ngày nhận hoặc niêm yết bản án ) để yêu cầu TAND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử phúc thẩm.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận. - TAND tỉnh BR – VT. - VKSND huyện XM. - Chi cục THADS huyện XM. - UBND xã BR. - Người tham gia tố tụng. - Lưu. | Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà ( Đã ký ) Hoàng Ngọc Tuấn |