vanban.org

Bản án 107/2019/HSST — Hình sự

TAND Q. Liên Chiểu, TP Đà Nẵng Tuyên án 26/09/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Xâm phạm mồ mả, hài cốt”.

Xử phạt: Nguyễn Văn T 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát giáo dục bị cáo nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án. Giao bị cáo về UBND phường Hòa Khánh Nam, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng để giám sát, gi… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Xâm phạm mồ mả, hài cốt - phạm tội xâm phạm thi thể, mồ mả, hài cốt (điều 319 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Xâm phạm mồ mả, hài cốt”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 36 Bộ luật Hình sự xử phạt; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN LIÊN CHIỂU - TP. ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 107/2019/HSST
Ngày: 26/9/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Thanh Hùng

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Hồng Quang

Ông Nguyễn Phạm Hùng

- Thư ký phiên tòa: Ông Khuất Duy Toàn - Thư ký Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Mạnh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 26 tháng 9 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 98/2019/TLST-HS ngày 12/68/2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 110/2019/QĐXXST-HS ngày 16.9.2019 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn T; Tên gọi khác: (không có); sinh ngày: 01 tháng 02 năm 1947 tại thành phố Đà Nẵng; Nơi cư trú: Tổ x, phường H, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn C (chết) và mẹ bà Phạm Thị Q (chết); Vợ: P Thị L (sinh năm 1950). Có 04 người con (sinh năm 1975, 1978, 1983, 1981); Tiền án, tiền sự: Chưa.

Bị cáo hiện đang tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Tộc P Đ S, phường H, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng. Đại diện theo ủy quyền của bị hại: Ông P Duy T, sinh năm 1939. Địa chỉ: Số x đường Hoàng Văn T, phường Hòa Khánh Nam, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng (theo văn bản ủy quyền ngày 03.3.2019, có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông P Đình N, sinh năm 1980. Địa chỉ: Thôn H, xã Hòa Sơn, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng, vắng mặt.

- Người làm chứng:

+ Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1986. Địa chỉ: Tổ X, phường Hòa Khánh Nam, quận Liên Chiểu, TP Đà Nẵng, vắng mặt;

+ Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1960. Địa chỉ: Tổ X, phường Hòa Khánh Nam, quận Liên Chiểu, TP Đà Nẵng, vắng mặt;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và qua diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Năm 2003 ông Nguyễn Văn T mua đất tại địa chỉ x0 Phạm Như Xương, tổ y, phường Hòa Khánh Nam, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng (nhà đất đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên vợ chồng ông T), ông T làm nhà ở trên đất cho đến nay. Khi mua bên cạnh thửa đất có ngôi mộ của cụ Hồ Thị M thuộc gia tộc họ P, làng Đà Sơn, phường Hòa Khánh Nam được chôn cất và xây dựng trước đó (ngôi mộ dạng tròn, đường kính khoảng 02 mét, bao quanh là tường thành, có bia đá dựng trước ngôi mộ). Trong quá trình sinh sống ông T thấy ngôi mộ bỏ hoang, nằm dưới thấp, không có người quản lý, chăm sóc và xung quanh ngôi mộ mất vệ sinh (do trâu, bò, gà, vịt làm nơi trú ngụ và người dân đổ rác bên cạnh ngôi mộ) nên ông T đã báo với Ban nghĩa trang làng Đà Sơn xin được di dời ngôi mộ đến nơi khác sạch sẽ hơn và để tiện chăm sóc.

Ngày 05.6.2018 ông T thuê ông P Đình N di dời ngôi mộ, ông N đã đập, phá ngôi mộ, đào tấm bia đá và đào phần mộ cụ Hồ Thị M. Khi đào được khoảng 70cm, có phần mộ dạng hộp đã phân hủy, chỉ còn lại đất cát màu đen và những dạng vật chất nhiều hình dạng, kích thước nghi là xương sọ, hài cốt cũ của ngôi mộ. Sau đó anh N bốc toàn bộ phần cát đen và những vật chất này bỏ vào một cái quách gỗ rồi vận chuyển cùng với tấm bia lên nghĩa trang Hòa Sơn chôn cất và xây mộ mới.

Đến ngày 08.01.2018 ông P C (là cháu gọi cụ M bằng bà Cố) từ thành phố Hồ Chí Minh về thì phát hiện mồ mả và hài cốt của cụ M di dời đi đâu không rõ nên trình báo sự việc với Công an phường Hòa Khánh Nam.

Về dân sự: Gia tộc P và đại diện hợp pháp ông P Duy T đã yêu cầu bị cáo Nguyễn Văn T bốc hài cốt cụ Hồ Thị M từ Nghĩa trang Hòa Sơn về chôn cất, xây mới tại Nghĩa trang gia tộc Khe Cái thuộc phường Hòa Khánh Nam, quận Liên Chiểu. Bị cáo T đã thực hiện đầy đủ các yêu cầu của đại diện bị hại, ông T không yêu cầu nội dung nào thêm.

Tại bản cáo trạng số 98/CT-VKS ngày 09.8.2019 bị cáo Nguyễn Văn T bị Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng truy tố về tội “Xâm phạm mồ mả, hài cốt” theo khoản 1 Điều 319 BLHS.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng giữ nguyên cáo trạng đã truy tố và căn cứ vào tính chất, mức độ, nhân thân của bị cáo Nguyễn Văn T, đề nghị HĐXX: Căn cứ khoản 1 Điều 319, điểm b, i, o, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Nguyễn Văn T từ 06 (sáu) đến 09 (chín) tháng tù về tội “Xâm phạm mồ mả, hài cốt” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 (mười hai) đến 18 (mười tám) tháng.

Quá trình điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, sau khi sự việc phạm tội xảy ra bị cáo đã tự nguyện sửa chữa, khắc phục hậu quả, thời điểm phạm tội bị cáo đã hơn 70 tuổi và gia đình bị cáo thuộc diện hộ nghèo tại địa phương.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại gì. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Xét lời khai nhận tội của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa phù hợp lời khai của bị hại, người liên quan và các nhân chứng, cũng như phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập có tại hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định:

Ngày 05/6/2018 tại tổ 35, phường Hòa Khánh Nam, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng, Nguyễn Văn T đã tự ý thuê ông P Đình N phá bức tường thành xung quanh ngôi mộ, đào phần mồ mả, hài cốt cùng văn bia phần mộ của cụ Hồ Thị M di dời lên Nghĩa trang Hòa Sơn thuộc xã Hòa Sơn, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng chôn cất và xây mới khi chưa được sự đồng ý của những người quản lý ngôi mộ này.

Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn T phạm vào tội “Xâm phạm mồ mả, hài cốt” như Cáo trạng số 98/CT-VKS ngày 09.8.2019 của Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu đã truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

ơ[3] Xét tính chất nghiêm trọng của vụ án, mức độ phạm tội của bị cáo thì thấy: Mộ phần của cụ Hồ Thị M đã tồn tại, một phần trong khuôn viên nhà bị cáo T tại tổ 35, phường Hòa Khánh Nam, quận Liên Chiểu. Hàng năm các cháu gọi cụ M bằng Bà Cố, bà Tổ và Tộc P vẫn đến thăm non, chăm sóc, thắp nhan khói. Dù chưa được sự đồng ý của chủ sở hữu, nhưng ngày 05.6.2018 bị cáo T vẫn tự ý thuê người đập phá, di dời mộ phần cùng với văn bia từ tổ 35, phường Hòa Khánh Nam, quận Liên Chiểu đến Nghĩa trang Hòa Sơn, thuộc xã Hòa Sơn, huyện Hòa Vang. Hành vi nêu trên của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng đến thuần phong mỹ tục của dân tộc, liên quan đến truyền thống của dân tộc trong việc an táng, thờ cúng người chết, gây mất trật tự an ninh tại địa phương. Do đó đối với bị cáo T cần phải xử phạt nghiêm minh để phòng ngừa chung và giáo dục riêng đối với bị cáo.

[4] Tuy nhiên xét thấy: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; sau khi sự việc phạm tội xảy ra bị cáo đã tự nguyện sửa chữa, khắc phục hậu quả; tại phiên tòa đại diện bị hại bãi nại, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng; thời điểm phạm tội bị cáo đã hơn 70 tuổi và gia đình bị cáo thuộc diện hộ nghèo tại địa phương. Đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, i, o, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu đề nghị xử phạt bị cáo mức án từ 06 (sáu) đến 09 (chín) tháng cho hưởng án treo là có phần nghiêm khắc. Hội đồng xét xử thấy, không cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, mà áp dụng Điều 36 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo hình phạt cải tạo không giam giữ cũng thỏa đáng.

Do bị cáo T là hộ nghèo tại địa phương và thuộc đối tượng người cao tuổi, nên Hội đồng xử xử quyết định không khấu trừ thu nhập của bị cáo và không áp dụng biện pháp lao động công ích đối với bị cáo T.

[5] Về dân sự: Gia tộc P và đại diện hợp pháp ông P Duy Tâm đã yêu cầu bị cáo Nguyễn Văn T bốc hài cốt cụ Hồ Thị M từ Nghĩa trang Hòa Sơn về chôn cất, xây mới tại Nghĩa trang gia tộc Khe Cái thuộc phường Hòa Khánh Nam, quận Liên Chiểu. Bị cáo T đã thực hiện đầy đủ các yêu cầu của đại diện bị hại, ông Tâm không yêu cầu bồi thường thêm, nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

[6] Về án phí: Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Đối với ông Phạm Đình N, do được ông Nguyễn Văn T thuê để thực hiện việc di dời ngôi mộ nên cơ quan điều tra Công an quận Liên Chiểu không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với ông là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Xâm phạm mồ mả, hài cốt”.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 319, điểm b, i, o, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 36 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Nguyễn Văn T 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát giáo dục bị cáo nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.

Giao bị cáo về UBND phường Hòa Khánh Nam, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng để giám sát, giáo dục bị cáo Nguyễn Văn T trong thời gian chấp hành án.

Không khấu trừ thu nhập đối với bị cáo và không áp dụng biện pháp lao động công ích đối với bị cáo Nguyễn Văn T.

2. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).

3. Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm bị cáo, bị hại người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được (hoặc niêm yết) trích sao bản án.

Cỡ chữ