- Tranh chấp gì? án hình sự — "VŨ XUÂN HÒE - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1] Căn cứ vào Điểm a khoản 1 Điều 355 Bộ luật tố tụng hình sự không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Vũ Xuân H (tên gọi khác: Vũ Mạnh H).
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 138 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 107/2019/HSPT Ngày: 22-8-2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Với thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Kim Dung
Các thẩm phán: Ông Nguyễn Gia Lương
Bà Hoàng Thị Thu Hiền
- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Lê Thị Tố Hoa- Cán bộ Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Bà lâm Thị Hồng-Kiểm sát viên trung cấp.
Ngày 22/8/2019 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 87/TLPT-HS ngày 22 tháng 4 năm 2019 đối với bị cáo Vũ Xuân H do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 13/2019/HSST ngày 21/3/2019 của Tòa án nhân dân huyện N1, tỉnh Bắc Giang.
Bị cáo có kháng cáo: Vũ Xuân H, sinh n¨m 1965; tªn gäi kh¸c: Vũ Mạnh H; Nơi cư trú: Tổ 15, khu 4B, phường 1, thành phố H1, tỉnh Quảng Ninh; d©n téc: Kinh; quèc tÞch: ViÖt Nam; t«n gi¸o, ®¶ng ph¸i: Kh«ng; v¨n ho¸: 10/10; nghÒ nghiÖp: Làm ruộng; con ông: Vũ Xuân L ( tức vũ Xuân N); con bà: Phạm Thị L1 (Đã chết); bị cáo cã 05 chị em ruột, bị cáo lµ con thứ 4; vợ: Đỗ thị P, sinh năm 1967; bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 1994, con nhỏ sinh năm 1994.
TiÒn ¸n:Tại bản án hình sự phúc thẩm số 145/2014/HSPT ngày 06/6/2014 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang áp dụng điểm b khoản 2 Điều 248; điểm c khoản 1 Điều 249 BLTTHS 2003; khoản 1 Điều 138; điểm b, h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 33, Điều 47 Bộ luật hình sự năm 1999, xử phạt Vũ Xuân H 04 tháng tù. Ngày 15/9/2014 bị cáo chấp hành xong hình phạt tù. Ngày 07/11/2018 bị cáo chấp hành xong việc nộp án phí hình sự sơ thẩm.
Nhân thân: Tại bản án hình sự phúc thẩm số 110/2014/HSPT ngày 17/4/2014 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang áp dụng điểm b khoản 2 Điều 248; điểm c khoản 1 Điều 249 BLTTHS 2003; khoản 1 Điều 138; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48, Điều 33 Bộ luật hình sự năm 1999, xử phạt Vũ Xuân H 06 tháng tù. Ngày 15/5/2014 bị cáo chấp hành xong hình phạt tù. Ngày 08/5/2014 bị cáo chấp hành xong việc nộp án phí hình sự sơ thẩm.
- BÞ cáo bị tạm giữ từ ngày 11/9/2018 đến ngày 20/9/2018 được thay thế biện pháp ngăn chặn Cấm đi khởi nơi cư trú. Bị cáo vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 06 giờ ngày 11/9/2018, Vũ Xuân H (tên gọi khác là Vũ Mạnh H), điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Dream, màu sơn nâu, biển kiểm soát 34B2-175.40 đi từ nhà đến thôn D, xã C1, huyện N1, tỉnh Bắc Giang để lấy đá trắng, đá thạch anh về làm hòn non bộ và làm phong thủy, trên xe của H có mang theo dây chun và bao tơ dứa. Đến khoảng 08 giờ 45 phút cùng ngày, H đi đến khu vực cổng nhà bà Trần Thị Đ, sinh năm 1952 ở thôn K, xã C1, huyện N1, tỉnh Bắc Giang thì thấy cổng mở, trước cổng có hai cây hồng có quả chín nên H đi thẳng xe vào trong sân nhà bà Đ, mục đích là để hỏi mua hồng chín về ăn. Khi vào đến sân, H thấy cửa chính nhà bà Đ mở, H dựng xe ở sân và hỏi “Gia đình có ai ở nhà không?”, H không thấy ai trả lời nên đi bộ về phía cửa chính nhà bà Đ rồi tiếp tục gọi “Có ai ở nhà không?” nhưng vẫn không thấy ai trả lời. H nhìn vào trong nhà thì thấy có 01 chiếc tivi nhãn hiệu Sony, màn hình phẳng, màu đen, loại 49 inch đang để trên mặt kệ gỗ kê ở sát tường phía sau nhà, đối diện với cửa chính. Quan sát xung quanh không thấy có người nên H nảy sinh ý định trộm cắp chiếc tivi trên mang về nhà để dùng . Lúc này, H tiến sát đến chỗ để tivi tháo dây cắm điện ra rồi dùng hai tay bê tivi đi ra sân đặt úp màn hình xuống yên xe, dùng chiếc dây chun mang theo chằng tivi vào yên xe, sau đó H dắt xe chở tivi ra cổng. Khi H dắt xe ra vị trí cách cổng khoảng 10m thì bị bà Đ đi nấu rượu ở gần đó về phát hiện và đuổi theo, bà Đ dùng tay giữ chiếc tivi trên xe H lại rồi bảo “Sao lại lấy tivi nhà tôi”, H không nói gì và dùng tay tháo chiếc móc dây chun chằng tivi trên yên xe ra làm chiếc tivi bị rơi xuống đất, lúc này bà Đ tri hô “trộm, trộm” thì H hoảng sợ nổ máy bỏ chạy theo hướng K đi D, xã C1. Nghe thấy bà Đ hô trộm, anh Nguyễn Hữu T, sinh năm 1985 và anh Nguyễn Văn C, sinh năm 1978 (đều ở cùng thôn với bà Đ) liền lấy xe máy chở nhau đuổi bắt H, anh Nguyễn Bá C, sinh năm 1979 là con trai bà Đ cũng dùng xe mô tô chở bà Đ đuổi theo H. H bỏ chạy đến khu vực đường liên thôn D, xã C1, huyện N1 thì bị Tổ tuần tra Công an huyện N1, Công an xã C1 cùng nhân dân địa phương phối hợp bắt quả tang, thu giữ tang vật gồm: 01 xe mô tô nhãn hiệu Dream, biển kiểm soát 34B2-175.40, số khung 0802AY352374, số máy HA08E1652401; 01 túi xách màu đen ở nắp túi có gắn mác nhãn hiệu Jinyingli, bên trong túi xách có 01 khóa bấm cửa màu đen ký hiệu AUSTDOOR; 01 thẻ khách hàng sử dụng điện mang tên Vũ Xuân H; thu giữ trên người Vũ Xuân H 01 chiếc đồng hồ đeo tay đã cũ màu trắng, ở mặt sau đồng hồ có in dòng chữ STAINLESS và có số 8017; 01 chiếc nhẫn bằng kim loại hình tròn màu vàng, bên trên mặt nhẫn có gắn hạt màu trắng. Ngoài ra, Vũ Xuân H còn tự nguyện giao nộp 01 điện thoại di động Iphone 6S màu vàng gôn, số imei 358611070287984, bên ngoài có vỏ ốp bằng nhựa màu đỏ, có ký hiệu mặt trong là Original.
Cùng ngày, bà Trần Thị Đ đã đến Công an huyện N1 trình báo sự việc và đề nghị giải quyết, đồng thời giao nộp cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện N1 01 chiếc tivi màn hình phẳng, nhãn hiệu Sony loại 49 inch màu đen, MODEL NO.KDL49W660E; SERIAL NO.55129.05, bà Đ khai là chiếc tivi mà Vũ Xuân H đã trộm cắp của gia đình bà ngày 11/9/2018.Tại bản kết luận định giá tài sản ngày 18/9/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện N1 kết luận: 01 chiếc tivi màn hình phẳng, nhãn hiệu Sony, loại 49 inch, màu đen, MODEL NO.KDL49W660E; SERIAL NO.55129.05 có giá trị tại thời điểm bị chiếm đoạt là 12.150.000 đồng. Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện N1 đã cho Vũ Xuân H nhận dạng chiếc tivi nhãn hiệu Sony mà bà Đ giao nộp ngày 11/9/2018. Kết quả, sau khi quan sát Vũ Xuân H đã khẳng định đây chính là chiếc tivi mà H đã trộm cắp của gia đình bà Đ ngày 11/9/2018.
Đối với chiếc dây chun mà Vũ Xuân H khai nhận sử dụng để chằng tivi trộm cắp vào yên xe mô tô và 01 bao tưa dứa, H khai quá trình bỏ chạy đã làm rơi, Cơ quan điều tra đã tiến hành truy tìm vật chứng nhưng không thấy nên không thu hồi được .
Đối với 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Dream, màu sơn nâu, biển kiểm soát 34B2-175.40 mà Vũ Xuân H sử dụng làm phương tiện để trộm cắp tài sản, quá trình điều tra xác định chiếc xe này H mượn của bà Phạm Thị Kim L, sinh năm 1956 trú tại số 04 đường Đ1, phường Đ1, thành phố D1, tỉnh Hải Dương, khi cho H mượn xe bà L không biết H sử dụng làm phương tiện phạm tội nên ngày 09/11/2018, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện N1 đã ra Quyết định trả lại chiếc xe trên cho bà L. Ngày 30/10/2018, Cơ quan điều tra đã xử lý vật chứng trả lại cho bà Đ 01 chiếc tivi màn hình phẳng, nhãn hiệu Sony, loại 49 inch, màu đen, MODEL NO.KDL49W660E; SERIAL NO.55129.05.
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra Vũ Xuân H đã bồi thường cho bà Trần Thị Đ số tiền 10.000.000 đồng, bà Đ đề nghị xử lý Vũ Xuân H theo quy định của pháp luật và không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm.
Vật chứng vụ án: 01 túi xách màu đen ở nắp túi có gắn mác nhãn hiệu Jinyingli; 01 khóa bấm cửa màu đen ký hiệu AUSTDOOR; 01 thẻ khách hàng sử dụng điện mang tên Vũ Xuân H; 01 chiếc đồng hồ đeo tay đã cũ màu trắng, ở mặt sau đồng hồ có in dòng chữ STAINLESS và có số 8017; 01 chiếc nhẫn bằng kim loại màu vàng có hình tròn bên trên mặt nhẫn có gắn hạt màu trắng; 01 điện thoại di động Iphone 6S màu vàng zôn, số imei 358611070287984, bên ngoài có vỏ ốp bằng nhựa màu đỏ, có ký hiệu mặt trong là Original được chuyển theo xử lý cùng vụ án.
Tại bản cáo trạng số 68/CT-VKS ngày 27/11/2018 của VKSND huyện N1 đã truy tố các bị cáo Vũ Xuân H phạm tội “ Trộm cắp tµi s¶n” quy ®Þnh t¹i kho¶n 1 §iÒu 173 Bé luËt h×nh sù.
Với nội dung trên bản án hình sự sơ thẩm số 13/2019/HS-ST ngày 21/3/2019 của Tòa án nhân dân huyện N1, tỉnh Bắc Giang đã xét xử và quyết định:
Tuyên bố bị cáo Vũ Xuân H (tức Vũ Mạnh H) phạm téi “Trộm cắp tµi s¶n”. Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm b,s khoản 1 khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Vũ Xuân H 09(chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án nhưng được trừ đi những ngày tạm giữ, từ ngày 11/9/2018 đến ngày 20/9/2018 và phạt bổ sung bằng tiền 5.000.000 đồng sung công quỹ nhà nước.
Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về án phí, xử lý vật chứng và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi cấp sơ thẩm xét xử xong, ngày 03/4/2019 bị cáo Vũ Xuân H có đơn kháng cáo với nội dung xin được hưởng án treo và miễn hình phạt tiền với lý do: hoàn cảnh gia đình khó khăn, bản thân bị cáo sức khỏe yếu.
Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo Vũ Xuân H được Tòa án triệu tập hợp lệ tuy nhiên vắng mặt tại phiên tòa không có lý do.
Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang thực hành quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích các tình tiết của vụ án, tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đưa ra đề nghị xem xét các vấn đề kháng cáo mà bị cáo nêu ra đã kết luận và đề nghị HĐXX áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Vũ Xuân H.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo Vũ Xuân H nộp theo đúng các quy định của pháp luật nên được coi là đơn kháng cáo hợp pháp cần được chấp nhận để xem xét.
Về việc vắng mặt bị cáo H có kháng cáo: bị cáo Vũ Xuân H đã được Tòa án tống đạt hợp lệ giấy triệu tập phiên tòa tuy nhiên bị cáo vắng mặt tại phiên tòa phúc thẩm không có lý do, căn cứ Điều 351 Bộ luật tố tụng hình sự Tòa án xét xử vắng mặt bị cáo theo quy định của pháp luật.
Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, qua quá trình xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm thấy đủ cơ sở xác định: Khoảng 08 giờ 45 phút ngày 11/9/2018, Vũ Xuân H lợi dụng sơ hở đã trộm cắp của gia đình bà Trần Thị Đ, sinh năm 1952 ở thôn K, xã C1, huyện N1, tỉnh Bắc Giang 01 chiếc tivi màn hình phẳng, nhãn hiệu Sony, loại 49 inch, màu đen, MODEL NO.KDL49W660E; SERIAL NO.55129.05 có giá trị tại thời điểm bị trộm cắp là 12.150.000 đồng.
Bản án hình sự sơ thẩm số13/2019/HS-ST ngày 21/3/2019 của Tòa án nhân dân huyện N1, tỉnh Bắc Giang xét xử bị cáo Vũ Xuân H phạm tội “trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.
Xét kháng cáo của bị cáo Vũ Xuân H thấy:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản được pháp luật bảo vệ. Chỉ vì lợi ích trước mắt, bị cáo đã chiếm đoạt tài sản của công dân, gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây hoang mang lo lắng trong nội bộ quần chúng nhân dân. Án sơ thẩm sau khi xem xét đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm hành vi của bị cáo, đánh giá toàn bộ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo đã xử phạt bị cáo Vũ Xuân H 09 tháng tù là hoàn toàn tương xứng với tính chất, mức độ hành vi của bị cáo.
Bị cáo H kháng cáo xin được hưởng án treo và xin miễn hình phạt tiền, tuy nhiên tại Tòa án cấp phúc thẩm không có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào mới nên Hội đồng xét xử thấy không có căn cứ để chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm đối với bị cáo Vũ Xuân H như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tại phiên tòa là phù hợp với quy định của pháp luật.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội:
Do bị cáo Vũ Xuân H không được chấp nhận kháng cáo nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ vào Điểm a khoản 1 Điều 355 Bộ luật tố tụng hình sự không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Vũ Xuân H (tên gọi khác: Vũ Mạnh H). Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b,s khoản 1 khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Vũ Xuân H (tên gọi khác: Vũ Mạnh H) 09(chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án nhưng được trừ đi những ngày tạm giữ, từ ngày 11/9/2018 đến ngày 20/9/2018 và phạt bổ sung bằng tiền 5.000.000 đồng sung công quỹ nhà nước.
[2] Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội:
Bị cáo Vũ Xuân H (tên gọi khác: Vũ Mạnh H) phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự phúc thẩm.
[3] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Bắc Giang; - Sở tư pháp tỉnh Bắc Giang; - Cổng thông tin điện tử Tòa án; - CA, VKS, TA huyện N1; -Chi cục THADS huyện N1; - Bị cáo; - Lưu HS, HCTP. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (Đã ký) Nguyễn Thị Kim Dung |