- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Đình T phạm tội "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| Bản án số: 107/2019/HS-PT Ngày: 08-11-2019 |
NHÂN DANH
TÒA ÁN NHÂN DÂN T
NG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Hoài
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Văn Bỉnh
Ông Đặng Ngọc Bình
- Thư ký phiên tòa: Bà Đào Thị Lương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.
- Đại
diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Khanh - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 122/2019/TLPT-HS, ngày 05/9/2019 đối với bị cáo Nguyễn Đình T, do kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 15/2019/HS-ST ngày 11/7/2019 của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.
- Bị cáo kháng cáo:
Nguyễ ì
; sinh ngày 14/11/1985 tại tỉnh Nghệ an; nơi ĐKNKTT: xóm Tân Mùng, xã G, huyện T, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: thôn Hương Thủy, xã Hương Lâm, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: công nhân; trình độ học vấn: lớp 9/12; dân tộc: Thổ; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Trọng Th (đã chết) và bà Trương Thị H, sinh năm 1959; vợ Phạm Thị T, sinh năm 1987 và có 02 con, con lớn sinh năm 2008, con nhỏ sinh năm 2013; tiền sự, tiền án: không; bị cáo hiện đang tại ngoại. Có mặt.
Trong vụ án này còn có nguyên đơn dân sự không kháng cáo; không bị kháng cáo và không bị kháng nghị.
U
Ụ :
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do quen và biết Nguyễn Đình T đang là công nhân của Trại chăn nuôi heo Triệu Hải 2, thuộc Công ty cổ phần chăn nuôi CP Việt Nam, có trụ sở tại thôn 3B, xã Triệu Hải, huyện Đ. Vào khoảng cuối tháng 11/2018, Trần Việt C có nhu cầu mua heo con giống về nuôi nên hỏi T trong trại có heo con bán không, nếu có thì bán cho C mua với giá 400.000đ/ một con. Khi nghe C hỏi, T nói để xem thế nào, có gì rồi gọi điện. Đến khoảng 18 giờ 36 phút ngày 30/12/2018, T làm ca đêm để dọn dẹp vệ sinh chuồng trại tại khu vực trại heo đẻ số 1, 2, 3, 4 của trại heo. Do thấy trại heo vắng người nên T nảy sinh ý định bắt trộm heo con giống để bán cho C lấy tiền tiêu xài cá nhân. T gọi điện cho C nói có heo con rồi và nói vào phía sau hàng rào trại heo số 3 và số 4 lấy. Sau khi gọi điện thoại cho C xong, T đi lại đầu giàn lạnh của trại heo đẻ số 3 lấy 04 vỏ bao đựng cám rồi đi vào trong trại đẻ số 01 bắt tổng cộng 04 lần, mỗi lần bắt 04 con heo con bỏ vào một bao và cột miệng bao lại. T mang 04 bao tải đựng heo con giống vừa bắt được đi ra phía sau trại đẻ số 3 và số 4 rồi lấy miếng sắt dạng nan dài 1,1m, rộng 60cm dựng vào tường rào phía trong để đứng lên và bỏ 04 bao tải đựng heo con ra phía ngoài hàng rào. Sau đó, T trở lại làm việc bình thường.
Đối với C, sau khi nghe điện thoại của T nói có heo con bán và chỉ địa điểm lấy heo con. C điều khiển xe máy, mang theo 03 cái giỏ xách bằng nhựa màu xanh đến lấy 16 con heo chở về nhà. Trên đường đi về, do xe máy bị mắc lầy nên C gọi điện nhờ anh vợ là Võ Trọng N, trú tại thôn 3B, xã Triệu Hải, huyện Đ ra phụ giúp để đẩy xe lên. Khi đi về đến đoạn đường thuộc thôn 1A, xã Triệu Hải thì bị lực lượng Công an xã Triệu Hải tuần tra phát hiện và yêu cầu C về trụ sở Công an xã để làm việc. Tại Cơ quan điều tra, T đã khai báo toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Theo Kết quả Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đ xác định tổng giá trị 16 con heo giống do bị cáo T chiếm đoạt của Công ty cổ phần chăn nuôi C.P. Việt Nam là 12.800.000đ.
Tại bản cáo trạng số 16/CT-VKSĐT ngày 03/6/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng truy tố bị cáo Nguyễn Đình T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 15/2019/HS-ST ngày 11/7/2019 của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng đã xử:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình T 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
Bản án còn tuyên án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 17/7/2019 bị cáo T kháng cáo xin hưởng án treo.
Tại phiên tòa bị cáo giữ nguyên kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Ậ Ị
TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Bị cáo là công nhân của trại chăn nuôi heo Triệu Hải 2 tại thôn 3B, xã Triệu Hải, huyện Đ, thuộc Công ty cổ phần chăn nuôi C.P. Việt Nam. Vào khoảng 18 giờ 36 phút ngày 30/12/2018, trong quá trình làm việc, lợi dụng lúc vắng người, bị cáo đã lén lút lấy trộm 16 con heo giống có tổng giá trị là 12.800.000đ.
[2] Xét kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đình T xin hưởng án treo: Đơn kháng cáo của bị cáo làm trong hạn luật định và đúng quy định nên được xem xét.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội bởi lẽ bị cáo biết rõ tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ nhưng bị cáo lợi dụng sự sơ hở của người khác để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nhằm phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt của bản thân, hành vi của bị cáo không những xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân mà còn gây mất trật tự trị an tại địa phương.
Cấp sơ thẩm đánh giá đúng tính chất vụ án, xem xét vai trò của các bị cáo, đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ, xử phạt bị cáo mức án như trên là thỏa đáng.
Tại phiên tòa, bị cáo không xuất trình được tình tiết giảm nhẹ nào mới nên kháng cáo không có cơ sở để xem xét, để đảm bảo tính ổn định của bản án sơ thẩm nên cần giữ nguyên bản án sơ thẩm như ý kiến đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng là phù hợp và đúng quy định của pháp luật.
[3] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾ Ị :
1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đình T, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình T 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
2. Về án phí: Áp dụng Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí tòa án. Bị cáo Nguyễn Đình T phải chịu 200.000đ án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Lâm Đồng; - Vụ GĐKT I – TANDTC; - Phòng KTNV&THA; - Sở Tư pháp tỉnh Lâm Đồng; - TAND huyện Đ; - VKSND huyện Đ; - Cơ quan CSĐT CA huyện Đ; - Cơ quan THAHS CA huyện Đ; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ; Án văn. | . É Ử P Ú Ẩ THẨM PHÁN – CH TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) guyễ Duy Hoài |