- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị C xin ly hôn vời anh L"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Lê Thị Kim C đối với anh Nguyễn Văn L.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| HUYỆN C TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 107/2019/HNGĐ-ST Ngày: 29-11-2019 V/v Tranh chấp ly hôn giữa Chị C với anh L |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Út
Các Hội thẩm nhân dân:
1.Ông Phạm Hồng Hải
2.Bà Nguyễn Thị Tuyết Sƣơng
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Hƣơng- Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Long An.
Ngày 29 tháng 11 năm 2019 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện C xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 379/2018/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 12 năm 2018 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 90/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 10 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 73/2019/QĐST-HNGĐ ngày 11 tháng 11 năm 2019, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lê Thị Kim C, sinh năm 1989 (có mặt);
Địa chỉ: Số 120 ấp R, xã L, huyện C, tỉnh Long An.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1987(vắng mặt).
Địa chỉ: Số 120 ấp R, xã L, huyện C, tỉnh Long An.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 03/9/2019 và các lời khai tại Tòa án, nguyên đơn chị Lê Thị Kim C trình bày: Chị và anh Nguyễn Văn L cưới nhau vào năm 2007, hôn nhân tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 08/7/2008 tại Uỷ ban nhân xã L, huyện C, tỉnh Long An. Sau khi cưới, cuộc sống vợ chồng hạnh phúc đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẩn do vợ chồng luôn bất đồng quan điểm, không tin tưởng nhau về tình cảm nên vợ chồng đã sống ly thân từ ngày 10/7/2019 đến nay. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị C yêu cầu ly hôn với anh L.
Về nuôi con chung: Có 02 con chung là Nguyễn Văn Bảo L, sinh ngày 07/12/2008, Nguyễn Gia B, sinh ngày 02/9/2013 hiện đang sống với cha. Khi ly hôn chị C để anh L tiếp tục nuôi 02 con chung do cháu L có nguyện vọng sống với cha và chị không phải cấp dưỡng nuôi 02 con.
Về Ca tài sản: Không có.
Về nợ chung: Không có.
Đối với bị đơn anh Nguyễn Văn L, Tòa án đã tống đạt các thông báo thụ lý, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, thông báo phiên tòa sơ thẩm, thông báo hoãn phiên tòa hợp lệ nhưng anh L không nộp văn bản nêu ý kiến cũng như không đến Tòa án tham gia phiên hòa giải và tham gia phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
Về thẩm quyền giải quyết và thủ tục tố tụng:
Đối với anh Nguyễn Văn L, đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai nhưng anh L không đến tham gia phiên tòa. Căn cứ khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử xử vắng mặt anh L.
Chị Lê Thị Kim C khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Văn L là quan hệ tranh chấp ly hôn. Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Long An.
Về nội dung:
Về hôn nhân: Chị Lê Thị Kim C và anh Nguyễn Văn L cưới nhau vào năm 2007, hôn nhân tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 08/7/2008 tại Uỷ ban nhân xã L, huyện C, tỉnh Long An là hôn nhân hợp pháp.
Theo lời trình bày của chị C thì nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng giữa chị C với anh L là do luôn bất đồng quan điểm, cả hai không tin tưởng nhau về tình cảm nên vợ chồng đã sống ly thân từ ngày 10/7/2019 đến nay, chị C nhận thấy không còn tình cảm với anh L nên chị yêu cầu ly hôn với anh L. Đối với anh L,Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng anh L vẫn không nộp cho Tòa án bất cứ văn bản nào trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu ly hôn của chị C và anh L cũng không đến Tòa án để giải quyết cho thấy anh L không có thiện chí để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Xét thấy, mâu thuẫn giữa chị C và anh L đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, căn cứ Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình cần xử chấp nhận cho chị C được ly hôn với anh L.
Về nuôi con chung: Có 02 con chung là Nguyễn Văn Bảo L, sinh ngày 07/12/2008, Nguyễn Gia B, sinh ngày 02/9/2013 hiện đang sống với cha. Do cháu L có nguyện vọng sống với cha và hiện 02 cháu L và B đang sống với anh L nên khi ly hôn chị C để anh L tiếp tục nuôi 02 con chung là phù hợp cần được chấp nhận.
Chị C không trực tiếp nuôi con nhưng được quyền đến thăm nom chăm sóc con chung, không ai được quyền ngăn cản. Nếu chị C có căn cứ chứng minh anh L hạn chế quyền thăm nom con hoặc không bảo đảm quyền lợi về mọi mặt của con thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn bằng một vụ án khác.
Về cấp dưỡng nuôi con: do anh L không có ý kiến hay yêu cầu chị C phải cấp dưỡng nuôi con nên không đề cặp.
Về chia tài sản và nợ chung: Chị C trình bày không có nên không đề cặp.
Nếu sau này anh L cung cấp chứng cứ chứng minh giữa chị C và anh L có tài sản chung và nợ chung thì anh L có quyền khởi kiện bằng một vụ án khác.
Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Chị C phải chịu án phí theo qui định của pháp luật.
Về quyền, thời hạn kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào các Điều 28, 35, 36, 39, 147 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
- Căn cứ vào các Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Lê Thị Kim C đối với anh Nguyễn Văn L.
1. Về hôn nhân: Chị Lê Thị Kim C được ly hôn với anh Nguyễn Văn L.
2. Về nuôi con chung: Anh Nguyễn Văn L được tiếp tục nuôi 02 con chung là Nguyễn Văn Bảo L, sinh ngày 07/12/2008, Nguyễn Gia B, sinh ngày 02/9/2013, chị C không phải cấp dưỡng nuôi con.
Bên không trực tiếp nuôi con nhưng được quyền đến thăm nom chăm sóc con chung, không ai được quyền ngăn cản. Nếu chị C có căn cứ chứng minh anh L hạn chế quyền thăm nom con hoặc không bảo đảm quyền lợi về mọi mặt của con thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn bằng một vụ án khác.
3. Về án phí: Chị Lê Thị Kim C phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm, được khấu trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai số 0001621 ngày 03/9/2019 của C cục thi hành án dân sự huyện C, chị C đã nộp đủ án phí.
5. Về quyền, thời hạn kháng cáo: Nguyên đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người đựơc thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự được quỳên thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Long An; - VKSND huyện C; - C cục THADS huyện C; - UBND xã nơi đăng ký kết hôn; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Thị Út |