vanban.org

Bản án 107/2019/HNGĐ-ST — Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận yêu cầu của anh TCS đối với chị DTMH.

[1] Chị H được quyền tiếp tục nuôi dưỡng cháu TTT. Anh S được quyền lui tới thăm và chăm sóc con chung, không ai có quyền ngăn cấm, cản trở. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "anh TCS yêu cầu thay đổi người nuôi con sau khi ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu của anh TCS đối với chị DTMH.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN XUYÊN MỘC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
Bản án số: 107/2019/HNGĐ-ST.
Ngày: 03/9/2019.
V/v: “ Yêu cầu thay đổi người
trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn ”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUYÊN MỘC – TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Ngọc Tuấn.

Các hội thẩm nhân dân:

Bà Đoàn Thị Mến.

Bà Trịnh Thị Mai Hương.

Thư ký phiên tòa: bà Danh Thị Ngọc Lệ – Thư ký tòa án nhân dân huyện XM, tỉnh Bà Rịa – VT.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện XM: không tham gia.

Ngày 03 tháng 9 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện XM, xét xử sơ thẩm vụ án hôn nhân – gia đình thụ lý số: 328/2019/TLST – HNGĐ ngày 05 tháng 6 năm 2019, về việc: “ Yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn ”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 106/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày: 15/8/2019, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: TCS, sinh năm: 1977 – ( Có mặt ).

HKTT: tổ 15, thôn 6, xã LS, TP VT, tỉnh Bà Rịa – VT.

Bị đơn: DTMH, sinh năm: 1982 – ( Có mặt ).

HKTT: tổ 4, ấp TS2A, xã PT, huyện XM, tỉnh Bà Rịa – VT.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 05/6/2019, bản khai, biên bản hoà giải trong quá trình tố tụng tại Tòa án và tại phiên toà, nguyên đơn anh TCS trình bày: Anh S và chị H kết hôn với nhau, trong thời kỳ hôn nhân anh chị có 01 con chung là: TTT, sinh ngày: 14/3/2013. Ngày 05/4/2019 anh S và chị H thuận tình ly hôn. Theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thoả thuận của các đương sự số: 112/2019/QĐST-HNGĐ ngày 05/4/2019 của TAND TP VT, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu thì chị H được quyền trực tiếp nuôi dưỡng cháu T, anh S cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000Đ ( Một triệu ). Sau khi ly hôn anh S vẫn thực hiện đầy đủ nghĩa vụ cấp dưỡng của anh S. Tuy nhiên, chị H đi làm công nhân xa, phải gửi con cho mẹ chị H nuôi. Khi anh S đến thăm con thì thấy bà ngoại hay đánh cháu T và cháu T có ý muốn về chung sống cùng anh S. Anh S cũng muốn đưa cháu T về nuôi nhưng chị H không đồng ý.

Vì vậy, anh S yêu cầu chị H giao cháu T cho anh S trực tiếp nuôi dưỡng. Anh S nuôi dưỡng cháu T không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con.

Tại phiên toà hôm nay anh S vẫn giữ nguyên ý kiến: Yêu cầu chị H giao cháu T cho anh S trực tiếp nuôi dưỡng. Anh S nuôi dưỡng cháu T không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con.

Theo bản khai, biên bản hoà giải trong quá trình tố tụng tại Tòa án và tại phiên toà, bị đơn chị DTMH trình bày: Chị H và Anh S kết hôn với nhau, trong thời kỳ hôn nhân anh chị có 01 con chung là: TTT, sinh ngày: 14/3/2013. Ngày 05/4/2019 anh S và chị H thuận tình ly hôn. Theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thoả thuận của các đương sự số: 112/2019/QĐST-HNGĐ ngày 05/4/2019 của TAND TP VT, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu thì chị H được quyền trực tiếp nuôi dưỡng cháu T, anh S cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000Đ ( Một triệu ). Sau khi ly hôn anh S vẫn thực hiện đầy đủ nghĩa vụ cấp dưỡng của anh S. Còn chị H mặc dù phải đi làm công nhân ở PM, phải gửi con cho mẹ chị H trông nom giúp, nhưng chị H vẫn gửi tiền để mẹ chị H lo cho con đảm bảo việc học hành và thu xếp thời gian để về thăm và chăm sóc con. Còn việc anh S trình bày bà ngoại hay đánh cháu là không có.

Tại Toà án chị H không đồng ý với yêu cầu của anh S mà yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu T.

Tại phiên toà hôm nay chị H vẫn giữ nguyên ý kiến: không đồng ý giao cháu T cho anh S nuôi dưỡng mà yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền và thủ tục tố tụng: anh TCS khởi kiện yêu cầu Toà án giao cháu TTT cho anh S trực tiếp nuôi dưỡng. Đây là tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn, theo quy định tại khoản 3 điều 28, điểm a khoản 1 điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện XM, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Viện Kiểm sát nhân dân huyện XM có văn bản thông báo không tham gia phiên toà ( Bút lục số: 40 ), nên áp dụng khoản 2 Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt Đại diện Viện kiểm sát.

Về nội dung: tại phiên toà hôm nay anh S vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, chị H vẫn giữ nguyên ý kiến của mình. Hai bên không thoả thuận được việc giải quyết vụ án.

Xét yêu cầu của các bên HĐXX thấy: về lý do anh S trình bày để yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con. Khi thì anh S trình bày là do chị H đi làm ăn xa phải gửi con cho mẹ chị H nuôi, bà ngoại hay đánh đập cháu. Cháu T muốn về chung sống với anh S ( Bút lục số: 22 ). Khi thì anh S trình bày chị H ngăn cản việc anh S thăm và chăm sóc cháu T ( Bút lục số: 27 ). Tuy nhiên, tại phiên toà anh S thừa nhận khi anh S đến thăm và đưa cháu T về LS thăm gia đình anh S thì chị H, mẹ chị H đều đồng ý để anh S thăm và đưa cháu T về mà không ngăn cản gì. Còn chị H cho rằng: chị H đi làm công nhân nhưng vẫn đảm bảo cuộc sống cũng như học hành của cháu T ( Bút lục số: 22 ). Việc có lúc anh S đến thăm và đón cháu T về chơi không gặp là do cháu T bận học ( Bút lục số: 27 ).

Xét lời trình bày của các bên HĐXX thấy: ngoài lời trình bày thì anh S không có tài liệu, chứng cứ gì để chứng minh. Anh S cũng thừa nhận anh S chỉ một lần chứng kiến việc bà ngoại đánh cháu, còn chỉ nghe cháu T kể lại ( Bút lục số: 27 ). Mặt khác, cháu T đang chuẩn bị bước vào năm học nên cháu đi học thêm, học kèm là việc có thật trong thực tế, nên có lúc anh S đến thăm và đón cháu về nhà chơi mà không gặp cháu là do khách quan chứ không phải chị H ngăn cản việc anh S thăm và chăm sóc con.

Như vậy, lời trình bày của anh S về việc bà ngoại hay đánh đập cháu T và chị H ngăn cản việc anh S thăm và chăm sóc con là không có căn cứ để HĐXX chấp nhận.

Đối với chị H: HĐXX thấy chị H vẫn đảm bảo việc học hành cho cháu T, cháu T học đạt kết quả tốt được khen thưởng ( Bút lục số: 37 ). Hiện nay, chị H đã làm thủ tục nhập học để cháu T vào học phổ thông ( Bút lục số: 36 ). Điều đó chứng tỏ chị H vẫn bảo đảm cuộc sống cũng như việc học hành cho cháu T để cháu phát triển bình thường. Không có dấu hiệu thể hiện việc cháu T bị đánh đập, ngược đãi, không được học hành. Không có điều kiện để phát triển bình thường về mọi mặt. Chị H không thuộc trường hợp không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Mặt khác, từ trước cho đến nay cháu T được chị H nuôi dưỡng, nếu giao cháu T cho anh S nuôi dưỡng sẽ làm xáo trộn nếp sống, sinh hoạt bình thường cũng như việc học hành của cháu T. Hơn nữa, cháu T là con gái nên để chị H tiếp tục nuôi dưỡng sẽ thuận lợi về sự phát triển mọi mặt cho cháu T hơn. Vì vậy, để chị H tiếp tục nuôi dưỡng cháu T là phù hợp.

Do đó, anh S yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con là không có căn cứ để chấp nhận, mà chấp nhận yêu cầu của chị H. Giao cháu T cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng.

Về án phí: Do yêu cầu không được chấp nhận nên anh S phải chịu án phí theo quy định.

Nguyên đơn và bị đơn được quyền kháng cáo theo luật định.

Vì những lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng khoản 2 Điều 21, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự.

Các điều 81,82,83,84 Luật hôn nhân và gia đình.

Tuyên xử:

Không chấp nhận yêu cầu của anh TCS đối với chị DTMH.

[1] Chị H được quyền tiếp tục nuôi dưỡng cháu TTT.

Anh S được quyền lui tới thăm và chăm sóc con chung, không ai có quyền ngăn cấm, cản trở.

Vì lợi ích của con chung trong quá trình nuôi dưỡng và chăm sóc anh S và chị H có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.

[2] Về án phí: anh S phải nộp 300.000Đ ( Ba trăm ngàn ) án phí HNGĐST, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000Đ ( Ba trăm ngàn ) mà anh S đã nộp theo biên lại thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số: 0008966 ngày 05/6/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện XM. Anh S đã nộp đủ án phí.

[3] Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu TAND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử phúc thẩm.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ