- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Khắc T - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Khắc T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 107/2018/HSST Ngày 27/7/2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đỗ Thị Thúy Hạnh;
- Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Tạ Quang Hiên;
2. Bà Trần Thu Phương.
Những người tiến hành tố tụng khác tại phiên toà:
- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thùy Liên, Thư ký Toà án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Tuyết Mai - Kiểm sát viên.
Ngày 27/7/2018, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội, tiến hành xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 114/2018/HSST ngày 16 tháng 7 năm 2018, đối với bị cáo:
1. Họ và tên: Nguyễn Khắc T, sinh năm 1983; Giới tính: Nam.
Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và ở: Thôn *, xã H, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Con ông: Nguyễn Khắc S, sinh năm 1957; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con bà: Trịnh Thị H (đã chết); Gia đình có 02 anh,em, bị cáo là con thứ nhất.
Tiền án, tiền sự: Không
Nhân thân: Ngày 17/10/2009, Công an phường T, quận C, Hà Nội xử phạt hành chính đối với Nguyễn Khắc T về hành vi trộm cắp mức phạt 1.500.000 đồng(Một triệu năm trăm nghìn đồng). Xác minh tại công an phường Trung Hòa thể hiện: Nguyễn Khắc T đã thi hành mức phạt trên.
Bị cáo bị bắt quả tang ngày 24 tháng 01 năm 2018. Khởi tố tại ngoại. Hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” (Có mặt tại phiên tòa).
Người bị hại: Chị Hoàng Thị H, sinh năm 1999; Địa chỉ: TDP *, phường P, quận B, Hà Nội.(vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Bị cáo Nguyễn Khắc T bị Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Khoảng 02 giờ 30 phút ngày 24/01/2018, Nguyễn Khắc T có đi lang thang một mình khi đi đến số nhà 1** ngõ 6*, tổ *, phường P, quận B, Hà Nội, T thấy cửa cổng không khóa và phát hiện bên trong có 01 xe máy và 02 xe đạp điện. T đứng ở ngoài cổng quan sát khoảng 20 phút không thấy có người trông coi nên T mở cổng đi vào dắt 01 chiếc xe đạp điện không khóa cổ, khóa càng của chị Hoàng Thị H dựng giáp tường, phía cửa ngách số nhà 1** ngõ 6* phường P, quận B, Hà Nội. Khi T dắt chiếc xe đạp điện trên đến ngõ 6* tổ *, phường P, quận B, Hà Nội thì bị anh Hoàng Anh P cùng quần chúng nhân dân phát hiện, bắt giữ và đưa T cùng vật chứng đến Công an phường Phú Diễn làm rõ.
Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Khắc T khai nhận hành vi vi phạm như đã nêu trên và khai: Ngày 24/01/2018, T trộm cắp tài sản để bán lấy tiền tiêu sài cá nhân. T thực hiện hành vi trộm cắp một mình, không tham gia bàn bạc với ai khác. Sau khi bị người dân phát hiện, bắt giữ, T bị người dân đánh vào mắt nên bị thâm tím nhưng không xác định được ai là người đánh mình, ngoài ra T không bị thương tích gì khác. T không yêu cầu giám định thương tích, không yêu cầu xử lý người gây thương tích và không yêu cầu bồi thường gì về dân sự.
Đối với chiếc xe đạp điện nhãn hiệu JILI màu đỏ quá trình xác minh là tài sản của chị Hoàng Thị Huệ. Ngày 15/5/2018 Cơ quan CSĐT – Công an quận Bắc Từ Liêm ra quyết định xử lý vật chứng số 57: Trao trả “01 chiếc xe đạp điện nhãn hiệu JILI màu đỏ đã qua sử dụng” cho chủ sở hữu là chị Hoàng Thị H, chị H đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì về dân sự.
Tại Cáo trạng số 104/CT-VKS, ngày 05/7/2018, Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm đã truy tố Nguyễn Khắc T về tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
- Bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như nội dung nêu trên.
- Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điểm s, i Khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Khắc T mức án từ 06 tháng đến 09 tháng tù; Về dân sự: Không; Vật chứng: không.
Căn cứ vào các tài liệu và chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
- Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công an quận Bắc Từ Liêm, TP. Hà Nội; Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm, TP. Hà Nội: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai báo thành khẩn, rõ ràng, phù hợp với quy định của pháp luật; bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Những căn cứ xác định tội danh:
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người bị hại, người làm chứng và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận: Khoảng 03 giờ ngày 24/01/2018, tại số nhà 1**, ngõ 6* đường D, phường P, quận B, TP Hà Nội, Nguyễn Khắc T có hành vi trộm cắp một chiếc xe đạp điện Jili màu đỏ trị giá 2.500.000 đồng (Hai triệu năm trăm nghìn đồng)của chị Hoàng Thị H thì bị bắt quả tang cùng vật chứng. Tài sản đã thu hồi trả cho chủ sở hữu.
Hành vi phạm tội của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội“Trộm cắp tài sản” được quy định tại Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015. Với giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 2.500.000đ, bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng định khung nào của Điều luật, vì vậy cần buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác, hành vi trên không những gây mất trật tự trị an xã hội mà còn vi phạm đạo đức xã hội. Nhân thân bị cáo đã có một tiền sự về hành vi trộm cắp năm 2009, tuy đã hết thời hiệu nhưng thể hiện sự coi thường pháp luật của bị cáo. Bị cáo đang tuổi lao động mà không tu trí làm ăn. Gia đình có hoàn cảnh khó khăn mẹ mất sớm, không chịu cố gắng để giúp gia đình mà lang thang đi nhặt ve trai không có chỗ ở ổn định. Do đó đối với bị cáo cần phải có một mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra. Tuy nhiên khi lượng hình, Hội đồng xét xử xem xét, quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại; Bị cáo lần đầu bị đưa ra xét xử. Tài sản trộm cắp đã được thu hồi trả cho người bị hại. Các tình tiết này được quy định tại điểm h,s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không có yêu cầu gì về dân sự nên không xem xét.
Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo qui định của pháp luật.
Từ những căn cứ nhận định trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Khắc T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
1. Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; Điểm h, s Khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự;
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Khắc T 06(Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.
2. Về dân sự: Không
3. Xử lý vật chứng: Không
4. Về án phí và quyền kháng cáo: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án. Người bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Người bị hại; - VKS ND Q. Bắc Từ Liêm; - VKSND TP Hà Nội; - TAND TP Hà Nội; - Công an Q. Bắc Từ Liêm; - Chi cục THADS Q. Bắc Từ Liêm; - Sở Tư pháp TP Hà Nội; - Lưu HS - VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Đỗ Thị Thúy Hạnh |