- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài — án hôn nhân và gia đình — "Chị Lại Thị M - Anh SSP"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Chị Lại Thị M.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 107/2018/HNGĐ-ST Ngày 27-9-2018 V/v ly hôn |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lương Ngọc Dũng
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Đỗ Thị Thanh Tú
Ông Đào Tuấn Điệp
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Thu Hương – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Bích Thanh - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 9 năm 2018, tại Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 170/2017/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 12 năm 2017 về ly hôn, tranh chấp nuôi con, tài sản khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 2862/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 31 tháng 8 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 2918/2018/QDST-HNGD ngày 07 tháng 9 năm 2018 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lại Thị M, sinh năm 1980; nơi cư trú: Xã TH, huyện TN, thành phố Hải Phòng. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Anh SSP, sinh năm 1969; nơi cư trú: ĐL. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn ly hôn và các bản tự khai nguyên đơn Chị Lại Thị M trình bày: Chị Lại Thị M và anh SSP kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng ngày 12 tháng 4 năm 2016. Sau khi kết hôn, anh SSP về ĐL làm thủ tục bảo lãnh cho chị M sang sống cùng, chị M đã 02 lần đi phỏng vấn làm thủ tục sang ĐL sinh sống cùng chồng nhưng không được chấp nhận, sau hai lần phỏng vấn không thành thì anh SSP không còn liên lạc gì với chị M, chị M cũng không liên lạc được với anh SSP. Nay chị M xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, vợ chồng không có khả năng đoàn tụ, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh SSP. Vợ chồng không có con chung và tài sản chung nên chị M không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa: Anh SSP vắng mặt đã được Tòa án ủy thác tư pháp để tống đạt thông báo thụ lý, thông báo về thời gian giải quyết vụ án, nhưng đến nay không nhận được văn bản trình bày ý kiến của anh SSP.
Phát biểu của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng:
Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc xét xử vắng mặt bị đơn anh SSP theo đúng quy định tại khoản 5 Điều 477 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung khởi kiện: Quan hệ hôn nhân giữa chị M và anh SSP đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, căn cứ quy định tại các điều 51, 56 Luật Hôn nhân và Gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị M, xử cho chị M được ly hôn với anh SSP.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng: Đây là vụ án hôn nhân và gia đình, anh SSP hiện đang cư trú ở nước ngoài nên theo khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng. Việc ủy thác tư pháp tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng cho anh SSP, Tòa án đã thực hiện đúng theo khoản 2, khoản 3 Điều 474 Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng anh SSP vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2, do vậy Tòa án xét xử vắng mặt anh SSP theo quy định tại Điều 477 Bộ luật Tố tụng dân sự. Chị M có đơn xin xét xử vắng mặt, Tòa án xét xử vắng mặt chị M theo quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Lại Thị M và anh SSP kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng ngày 12 tháng 4 năm 2016, theo quy định tại Điều 8, Điều 9 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Từ năm 2016 đến nay chị M và anh SSP đã sống ly thân mỗi người ở một nước nên không có điều kiện quan tâm chăm sóc nhau, thời gian sống ly thân quá lâu dẫn đến tình cảm vợ chồng nhạt phai, hôn nhân không có hạnh phúc. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, không có khả năng đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được, nay chị M đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn là chính đáng. Vì vậy, cần áp dụng Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị M.
Về con chung: Chị M và anh SSP không có con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung: Chị M không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Lại Thị M là nguyên đơn nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo đối với bản án: Chị Lại Thị M và anh SSP được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 51; Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ khoản 3 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 37; khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238; Điều 273; điểm d khoản 1 Điều 469; điểm b khoản 5 Điều 477, khoản 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Chị Lại Thị M.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lại Thị M được ly hôn anh SSP.
2. Về án phí và phí ủy thác tư pháp: Chị Lại Thị M phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm và 200.000 đồng phí ủy thác tư pháp nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo Biên lai thu số 0003997 ngày 01 tháng 12 năm 2017 và 200.000 đồng phí ủy thác tư pháp đã nộp theo Biên lai thu số 0000167 ngày 01 tháng 12 năm 2017 tại Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng. Chị M đã nộp đủ tiền án phí ly hôn sơ thẩm và phí ủy thác tư pháp.
Chị Lại Thị M có nghĩa vụ nộp tiền lệ phí ủy thác tống đạt bản án ra nước ngoài tại Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng. Toà án thực hiện việc tống đạt bản án ra nước ngoài sau khi nhận được biên lai thu tiền lệ phí uỷ thác do đương sự nộp.
3. Về quyền kháng cáo:
- Chị Lại Thị M được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ.
- Anh SSP được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án, quyết định được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - VKSND TP Hải Phòng; - Cục THADS TP Hải Phòng; - UBND huyện Thủy Nguyên; - Các đương sự (để thi hành); - Lưu: HS, HCTP. CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN Đào Tuấn Điệp Đỗ Thị Thanh Tú | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lƣơng Ngọc Dũng THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lƣơng Ngọc Dũng |