vanban.org

Bản án 107/2017/HSST — Hình sự

TAND TX. Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 13/09/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Bùi Văn D phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Áp dụng: Khoản 2 Điều 104; điểm b, đ, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 và khoản 1, khoản 2 Điều 60 BLHS. Xử phạt: Bùi Văn D 24 tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 48 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 13/9/2017. Giao bị cáo cho chính quyền Ủy ban nhân dân xã H, huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "BÙI VĂN D - CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (điều 104 Bộ luật hình sự năm…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Bùi Văn D phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 60 Bộ luật Hình sự; Điều 104 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TĨNH GIA
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 107/2017/HSST
Ngày: 13/9/2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TĨNH GIA - TỈNH THANH HOÁ

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Bắc

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Quang Học

2. Bà Lê Tuyết Hạnh

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngân

- Đại diện VKSND huyện Tĩnh Gia tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Hữu Tư – Kiểm sát viên

Ngày 13/9/2017, tại Hội trường xét xử TAND huyện Tĩnh Gia, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 99/2017/HSST ngày 04/8/2017 đối với bị cáo:

Bùi Văn D – Sinh năm: 1995;

Nơi ĐKHKTT: Thôn V, xã H, huyện T, tỉnh Thanh Hoá; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 10/12; Con ông: Bùi Văn H – Sinh năm 1972; Con bà: Vũ Thị H - Sinh năm: 1974; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 18/5/2017 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

* Người bị hại: Anh Nguyễn Đình C - Sinh năm: 1994

Trú tại: Thôn L, xã H, huyện T, tỉnh Thanh Hóa

NHẬN THẤY

Bị cáo Bùi Văn D bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Tĩnh Gia truy tố hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 20h30 ngày 13/01/2017, Bùi Văn D, Lê Hữu L; sinh năm 1995 đều trú tại thôn V, xã H, huyện Tĩnh Gia và một số người bạn rủ nhau vào quán CL thuộc thôn T, xã H, huyện T để ăn lẩu. Khi vào tới quán thấy có một bàn đang có khách ngồi ăn, trong đó có anh Nguyễn Đình C; sinh năm 1994 trú tại thôn L, xã H, huyện Tĩnh Gia đang ngồi ăn cùng với bạn. Thấy vậy Nguyễn Đình C chửi Bùi Văn D “ Địt bà D Nô”, nghe vậy Bùi Văn D chưởi lại “Địt bà C Thọ”. Nghe xong Bùi Văn D và Nguyễn Đình C chửi bới qua lại lẫn nhau thì Nguyễn Đình C đứng dậy đi lại chỗ Bùi Văn D và tát D một cái vào mặt, được mọi người can ngăn nên D và C ngồi lại bàn ăn của mình. Trong lúc ngồi ăn lẩu Bùi Văn D bực tức về hành vi của C, cộng với lời kích bác của bạn bè nên Bùi Văn D đứng dậy đi ra bàn uống nước lấy một cái điếu cày bằng tre đi vào bàn nơi C đang ngồi; D cầm điếu bằng tay trái vụt một cái từ trên xuống dưới, chếch từ trái qua phải trúng vào vùng mũi của C, làm C bị chảy máu mũi. Thấy vậy mọi người can ngăn và khuyên C đi viện nhưng C không đi mà cùng với những người bạn của C đuổi đánh nhóm của Bùi Văn D. Bùi Văn D cùng các bạn bỏ chạy, còn Lê Hữu L đứng lại can ngăn thì bị C dùng tay đấm vào vùng mặt làm anh L bị thương, sau đó được mọi người can ngăn hai bên ra về.

* Hậu quả: Nguyễn Đình C và Lê Hữu L bị thương tích phải đi điều trị tại bệnh viện. Anh Lê Hữu L bị thương tích nhẹ làm đơn từ chối giám định và rút yêu cầu điều tra.

Nguyễn Đình C bị thương tích gồm:

- Vùng sống mũi có vết sưng nề kích thước kích thước (5x3)cm; trên vết sưng nề có 02 vết rách da lần lượt 01cm và 0,5 cm, vết thương chảy máu, gãy xương chính mũi và chấn động não;

- Vùng cánh tay trái gần khuỷu tay dưới có vết sưng nề không rõ hình, kích thước (3x3)cm;

- Vùng cổ ngay dưới cằm có vết xước da bong lớp da lụa kích thước (1x1)cm.

Anh Nguyễn Đình C phải đi điều trị tại bệnh viện Đa khoa tỉnh Thanh Hóa từ ngày 14/01 đến ngày 23/01/2017 thì ra viện.

Tại bản Cáo trạng số 108/CT-VKS ngày 03/8/2017 của VKSND huyện Tĩnh Gia truy tố Bùi Văn D về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 2 Điều 104 BLHS.

Tại phiên tòa, đại diện VKS đề nghị: Áp dụng khoản 2 điều 104; điểm b, đ, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 và Điều 60 BLHS. Điểm a khoản 2 Điều 76 và Điều 99 BLTTHS. Điều 3; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Đề nghị xử phạt Bùi Văn D từ 24 tháng tù đến 30 tháng tù cho hưởng án treo. Không xem xét phần bồi thường thiệt hại. Tịch thu tiêu hủy 01 điếu hút thuốc lào và bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của Pháp luật.

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận; Trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

XÉT THẤY

Tại phiên toà bị cáo Bùi Văn D khai nhận: Khoảng 20h30 ngày 13/01/2017, Bùi Văn D và một số người bạn rủ nhau vào quán CL để ăn lẩu. Khi vào tới quán thấy có một bàn đang có khách ngồi ăn, trong đó có anh Nguyễn Đình C đang ngồi ăn cùng với bạn. Thấy vậy Nguyễn Đình C chửi Bùi Văn D “Địt bà D Nô”, nghe vậy Bùi Văn D chưởi lại “Địt bà C Thọ”. Nghe xong Bùi Văn D và Nguyễn Đình C chửi bới qua lại lẫn nhau thì Nguyễn Đình C đứng dậy đi lại chỗ Bùi Văn D và tát D một cái vào mặt, được mọi người can ngăn nên D và C ngồi lại bàn ăn của mình. Trong lúc ngồi ăn lẩu Bùi Văn D bực tức về hành vi của C, cộng với lời kích bác của bạn bè nên Bùi Văn D đứng dậy lấy một cái điếu cày bằng tre đi vào bàn nơi C đang ngồi; D cầm điếu bằng tay trái vụt một cái trúng vào vùng mũi của Nguyễn Đình C, làm C bị chảy máu mũi và phải đi điều trị tại bệnh viện.

Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 118/2017/TTPY ngày 12/4/2017 của Trung tâm pháp y tỉnh Thanh Hóa kết luận: Hiện tại tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 13% (Mười ba phần trăm sức khỏe).

Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai người bị hại. Vì vậy, có đủ cơ sở kết luận Bùi Văn D phạm tội “Cố ý gây thương tích”, tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 2 Điều 104 BLHS.

Xét tính chất, mức độ, hành vi và hậu quả do bị cáo gây ra thấy rằng: Bị cáo dùng điếu bằng tre là hung khi nguy hiểm gây thương tích cho anh C. Do đó hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, xâm phạm đến sức khỏe của người khác, gây tâm lý hoang mang cho nhân dân trên địa bàn. Vì vậy cần phải tuyên cho bị cáo một hình phạt nghiêm mới đủ điều kiện cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho xã hội. Đồng thời mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

Xét về nhân thân của bị cáo thấy rằng: Tiền án, tiền sự chưa; Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thật thà thành khẩn khai báo; Phạm tội trong trường hợp tinh thần bị kích động do hành vi trái pháp luật của người bị hại gây ra. Bị cáo đã tác động gia đình dùng tiền của bị cáo để bồi thường toàn bộ thiệt hại cho người bị hại và người bị hại có đơn xin miễn truy cứu hình sự đối với bị cáo. Do đó bị cáo được áp dụng điểm b, đ, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 BLHS làm tình tiết giảm nhẹ, lượng giảm cho bị cáo một phần hình phạt để bị cáo thấy được tính khoan hồng của pháp luật. Đồng thời không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà để bị cáo cải tạo tại địa phương cũng đủ điều kiện cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.

Đối với thương tích của Lê Hữu L, quá trình điều tra L và đã từ chối giám định sức khỏe. Do đó hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với hành vi của Nguyễn Đình C không cấu thành tội phạm. Công an huyện Tĩnh Gia đã ra quyết định xử phạt hành chính đối với C là hoàn toàn chính xác. Do đó Hội đồng xét xử miễn xét.

Xét về việc trả tự do cho bị cáo tại phiên tòa: Do bị cáo bị xử phạt tù cho hưởng án treo. Do đó cần phải áp dụng khoản 4 điều 227 BLTTHS để tuyên trả tự do cho bị cáo tại phiên tòa, nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.

Xét về phần bồi thường thiệt hại: Ngày 25/5/2017, Nguyễn Đình C đã nhận 25.000.000đ tiền bồi thường thiệt hại. Tại phiên tòa anh C không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm. Do đó Hội đồng xét xử miễn xét.

Xét về vật chứng: Đối với chiếc điếu cày bằng tre dài 69 cm, đường kính 4,5 cm (không có nỏ điếu). Chiếc điếu này đang bị thu giữ tại kho Chi cục THADS huyện Tĩnh Gia theo phiếu nhập kho số NK2017/88 ngày 10/8/2017, là công cụ bị cáo thực hiện hành vi phạm tội. Chiếc điếu đã cũ không còn giá trị sử dụng. Do đó cần phải áp dụng điểm a khoản 2 Điều 76 BLTTHS để tịch thu tiêu hủy.

Xét về phần án phí: Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 99 BLTTHS; Điều 3; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Bùi Văn D phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Áp dụng: Khoản 2 Điều 104; điểm b, đ, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 và khoản 1, khoản 2 Điều 60 BLHS.

Xử phạt: Bùi Văn D 24 tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 48 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 13/9/2017. Giao bị cáo cho chính quyền Ủy ban nhân dân xã H, huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật Thi hành án hình sự.

Về trả tự do cho bị cáo tại phiên tòa: Áp dụng khoản 4 điều 227 BLTTHS. Trả tự do cho bị cáo Bùi Văn D tại phiên tòa, nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.

Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 76 BLTTHS. Tịch thu tiêu hủy 01 điếu cày bằng tre dài 69 cm, đường kính 4,5 cm (không có nỏ điếu). Đang bị thu giữ tại kho Chi cục THADS huyện Tĩnh Gia theo phiếu nhập kho số NK2017/88 ngày 10/8/2017.

Về án phí: Áp dụng Điều 99 BLTTHS; Điều 3; Khoản 1 Điều 21; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Bùi Văn D phải chịu 200.000đ án phí HSST.

Trường hợp bản án quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, vắng mặt người bị hại. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án./.

Cỡ chữ