vanban.org

Bản án 1066/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 11/07/2022 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà Trần Kim P:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Kim P được ly hôn với ông Tran Minh H. Quan hệ hôn nhân giữa bà Trần Kim P và ông Tran Minh H chấm dứt, Trích lục ghi chú kết hôn số 87/TLGCKH ngày 15/7/2020 do Ủy ban nhân dân quận T, Thành phố Hồ Chí Minh cấp không còn giá trị kể từ khi bản án này có hiệu lực pháp luật… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà Trần Kim P:
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 1066/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 11-7-2022
V/v Tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Chủ tọa phiên tòa – Thẩm phán: Bà Võ Thị Mỹ Hạnh.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trương Lâm Danh.

Ông Trần Văn Đông.

Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Trường An – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Hà Thanh Bình – Kiểm sát viên.

Trong ngày 11 tháng 7 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 250/2020/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 7 năm 2020 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 2375/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 6 năm 2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Trần Kim P, sinh năm 1973.

Địa chỉ nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Sô 153/1A đường H, Phường S, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Địa chỉ liên lạc: Số 460/51/2 đường C, phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Bị đơn: Ông Tran Minh H, sinh năm 1957.

Quốc tịch: Đức.

Địa chỉ: Germany.

(Nguyên đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện và Bản tự khai, nguyên đơn bà Trần Kim P trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Ngày 29/3/2004, bà và ông Tran Minh H tự nguyện kết hôn, theo Trích lục ghi chú kết hôn số 87/TLGCKH ngày 15/7/2020 do Ủy ban nhân dân quận T, Thành phố Hồ Chí Minh cấp. Cuộc sống chung giữa bà và ông Tran Minh H không còn hạnh phúc do bất đồng quan điểm, không hòa hợp. Mặc dù bà và ông Tran Minh H đã cố gắng hàn gắn nhưng tình trạng hôn nhân vẫn không thay đổi. Nay bà nhận thấy cuộc sống vợ chồng không thể tiếp tục kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Tran Minh H.

Về con chung: Bà và ông Tran Minh H không có con chung.

Về tài sản chung: Bà và ông Tran Minh H không có tài sản chung.

Về nợ chung: Bà và ông Tran Minh H không có nợ chung. Đối với bị đơn ông Tran Minh H hiện đang cư trú tại Cộng hòa Liên bang Đức, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã thực hiện thủ tục ủy thác tư pháp ra nước ngoài để tống đạt thông báo thụ lý vụ án và yêu cầu cung cấp lời khai của ông Tran Minh H về việc bà Trần Kim P yêu cầu ly hôn với ông Tran Minh H, nhưng ông Tran Minh H không cung cấp cho Tòa án. Tại phiên tòa sơ thẩm: Nguyên đơn bà Trần Kim P có Đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Tòa án đã tiến hành thực hiện thủ tục ủy thác tư pháp ra nước ngoài để tống đạt thông báo về ngày mở phiên tòa đối với ông Tran Minh H nhưng ông Tran Minh H vắng mặt. Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Về tố tụng: Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý vụ án đúng thẩm quyền. Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án. Đối với các đương sự vắng mặt, Tòa án đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng. Về nội dung: Bà Trần Kim P và ông Tran Minh H từ lâu đã không còn chung sống, cho thấy quan hệ vợ chồng giữa bà Trần Kim P và ông Tran Minh H hiện nay không tồn tại trên thực tế, mục đích hôn nhân không đạt được nên có cơ sở để chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Trần Kim P. Về con chung, về tài sản chung và về nợ chung bà Trần Kim P khai không có nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Hội đồng xét xử nhận định: Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Ngày 15/7/2020, bà Trần Kim P đang cư trú tại Việt Nam có đơn xin ly hôn với ông Tran Minh H hiện đang cư trú tại Cộng hòa Liên bang Đức. Đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại Khoản 1 Điều 28, Khoản 3 Điều 35 và Điểm a Khoản 1 Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Về tố tụng: Nguyên đơn là bà Trần Kim P có đề nghị được vắng mặt tại phiên tòa xét xử sơ thẩm theo Đơn đề nghị xét xử vắng mặt của bà Trần Kim P. Ngày 30/3/2021, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có Công văn số 225/UTTPDS-TA30 về việc tương trợ tư pháp gửi Bộ Tư pháp để ủy thác tư pháp cho cơ quan có thẩm quyền của Cộng hòa Liên bang Đức thực hiện việc tống đạt Thông báo về việc thụ lý, ngày giờ mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, mở phiên tòa vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm đối với ông Tran Minh H đang cư trú tại Cộng hòa Liên bang Đức. Ngày 08/3/2022, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có Công văn số 143/TATP-TGĐVNCTN về việc tống đạt, niêm yết công khai, thông báo văn bản tố tụng đối với đương sự ở nước ngoài gửi Đại sứ quán nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại Cộng hòa Liên bang Đức để tống đạt, niêm yết Thông báo về thời gian mở phiên tòa xét xử sơ thẩm tại trụ sở Đại sứ quán nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại Cộng hòa Liên bang Đức và thông báo trên Cổng thông tin điện tử của Đại sứ quán nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại Cộng hòa Liên bang Đức trong thời hạn 01 (Một) tháng đối với ông Tran Minh H.

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 227, Khoản 1 và Khoản 3 Điều 228, và Điểm b Khoản 5 Điều 477 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Giữa bà Trần Kim P và ông Tran Minh H có quan hệ hôn nhân và có đăng ký kết hôn theo quy định. Đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp và thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Căn cứ vào các chứng cứ mà Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh thu thập được từ Bản tự khai của bà Trần Kim P, có cơ sở để xác định rằng mục đích của hôn nhân giữa bà Trần Kim P và ông Tran Minh H đã không đạt được. Về phía ông Tran Minh H, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã tiến hành thực hiện thủ tục ủy thác tư pháp ra nước ngoài hợp lệ, nhưng ông Tran Minh H không có văn bản trả lời hay đơn đề nghị xét xử vắng mặt, điều này chứng tỏ ông Tran Minh H không quan tâm đến cuộc hôn nhân này nữa. Do đó, việc bà Trần Kim P khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xem xét giải quyết cho bà Trần Kim P được ly hôn đối với ông Tran Minh H là có căn cứ để chấp nhận.

Về con chung: Bà Trần Kim P khai không có, nên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh không xem xét.

Về tài sản chung: Bà Trần Kim P khai không có, nên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh không xem xét.

Về nợ chung: Bà Trần Kim P khai không có, nên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh không xem xét.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Trần Kim P là nguyên đơn yêu cầu ly hôn nên căn cứ vào Khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, bà Trần Kim P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 1 Điều 28, Khoản 3 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 37, Khoản 4 Điều 147, Khoản 1 Điều 227, Khoản 1 và Khoản 3 Điều 228, Khoản 1 Điều 273, Điểm b Khoản 5 Điều 477, và Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2016;

Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 57 và Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2015;

Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà Trần Kim P:

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Kim P được ly hôn với ông Tran Minh H. Quan hệ hôn nhân giữa bà Trần Kim P và ông Tran Minh H chấm dứt, Trích lục ghi chú kết hôn số 87/TLGCKH ngày 15/7/2020 do Ủy ban nhân dân quận T, Thành phố Hồ Chí Minh cấp không còn giá trị kể từ khi bản án này có hiệu lực pháp luật. 2. Về con chung: Bà Trần Kim P xác nhận không có, nên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh không xem xét. 3. Về tài sản chung: Bà Trần Kim P xác nhận không có, nên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh không xem xét. 4. Về nợ chung: Bà Trần Kim P xác nhận không có, nên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh không xem xét. 5. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Trần Kim P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) nhưng được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) mà bà Trần Kim P đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2019/0092138 ngày 27/7/2020 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Trần Kim P đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm. Thi hành tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền. 6. Về quyền kháng cáo bản án: Bà Trần Kim P vắng mặt tại phiên tòa xét xử sơ thẩm, nên quyền kháng cáo bản án sơ thẩm đối với bà Trần Kim P là 15 ngày, kể từ ngày bà Trần Kim P được tống đạt hợp lệ bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật. Ông Tran Minh H không có mặt tại phiên tòa, nên được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành được thực hiện tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ