vanban.org

Bản án 1062/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 29/08/2019 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Dường Chỉ B - C"
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 121 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!
THÀNH!PHỐ!HỒ!CHÍ!MINH!
────────────
Bản án số: 1062/2019/HNGĐ-ST!
Ngày: 29-8-2019
Về việc tranh chấp ly hôn

NHÂN!DANH!

NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!

TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!THÀNH!PHỐ!HỒ!CHÍ!MINH!

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm"phán"-"Chủ"tọa"phiên"tòa:" Ông Nguyễn Văn Tuấn.

Các"Hội"thẩm"nhân"dân:"

Ông Phạm Văn Hễ.

Bà Đặng Thị Huệ Tú.

- Thư ký phiên tòa:

Bà Hồ Thị Thu Thảo - Thư ký Tòa án

nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Ngày 29 tháng 8 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số 221/2019/TLST-HNGĐ ngày ngày 18 tháng 4 năm 2019 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 3345/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 31 tháng 7 năm 2019; Giữa các đương sự:

-"Nguyên"đơn: Bà Dường!Chỉ!B, sinh năm 1988; địa chỉ: Số X đường D, Khu phố K, phường P, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.

-"Bị"đơn:"Ông C, sinh năm 1979; Quốc tịch: Trung Quốc (Đài Loan); địa chỉ: Đài Loan.

(Các đương sự vắng mặt, đều có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:!

Tại"đơn"khởi"kiện"và"các"bản"tự"khai,"nguyên"đơn"bà"Dường"Chỉ"B"trình" bày:"

Bà và ông C quen biết nhau vào khoảng tháng 5 năm 2018 do chị gái của bà sống tại Đài Loan giới thiệu. Qua một thời gian tìm hiểu và liên lạc với nhau, bà và ông C tự nguyện kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số X1 do Ủy ban nhân dân quận P, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 08 tháng 10 năm 2018. Mặc dù có đăng ký kết hôn hợp pháp nhưng hai người không thực tế chung sống, ông C có một vài lần về Việt Nam để làm thủ tục bảo lãnh bà sang Đài Loan. Tuy nhiên, mâu thuẫn vợ chồng phát sinh, giữa hai người không có tiếng nói chung, tính cách không thể hòa hợp nên bà quyết định không tiếp tục hoàn tất thủ tục để sang Đài Loan chung sống cùng chồng nữa. Từ tháng 01 năm 2019 đến nay, bà và ông C không còn liên hệ gì với nhau. Bà khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn ông C. Về con chung: Bà và ông C không có con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung, nợ chung: Bà và ông C không có tài sản chung, nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tại"bản"tự"khai"ngày"03"tháng"6"năm"2019"(đã"được"Văn"phòng"Kinh"tế-Văn"hóa"Đài"Bắc"tại"Thành"phố"Hồ"Chí"Minh"chứng"nhận/hợp"pháp"hóa"lãnh"sự" ngày"19"tháng"6"năm"2019),"bị"đơn"ông"C"trình"bày"như"sau:"" Ông và bà Dường Chỉ B tự nguyện kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số X1 do Ủy ban nhân dân quận P, Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam cấp ngày 08 tháng 10 năm 2018. Sau khi kết hôn, ông và bà B không thực tế chung sống mà chỉ liên hệ với nhau qua mạng xã hội và cùng làm thủ tục để bà B sang Đài Loan sinh sống. Nhưng sau đó, mâu thuẫn vợ chồng phát sinh, thủ tục bảo lãnh bà B không thể hoàn tất, từ tháng 01 năm 2019 đến nay, hai người không còn liên hệ với nhau. Ông đồng ý ly hôn với bà Dường Chỉ B. Giữa Ông và bà Dường Chỉ B không có con chung, không có tài sản chung, nợ chung.

NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN:!

Sau khi nghiên cứu tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, qua thẩm tra chứng cứ công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử sơ thẩm nhận định: [1] Về thủ tục tố tụng: Căn cứ đơn khởi kiện của nguyên đơn, căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn cùng lời trình bày của các đương sự tại bản khai, có cơ sở để xác định đây là vụ án tranh chấp về ly hôn. Bị đơn trong vụ án là ông C hiện đang cư trú tại Đài Loan; nguyên đơn bà Dường Chỉ B cư trú tại Thành phố Hồ Chí Minh. Theo quy định tại Khoản 1 Điều 28, Khoản 3 Điều 35, Khoản 1 Điều 37, Điểm c Khoản 1 Điều 40 của Bộ luật Tố tụng dân sự, thẩm quyền giải quyết vụ án thuộc về Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Trước khi mở phiên tòa xét xử sơ thẩm, nguyên đơn và bị đơn đều đã có đơn đề nghị tòa án xét xử vắng mặt. Xét, yêu cầu và ý kiến của đương sự đã được thể hiện rõ trong bản khai, sự vắng mặt của các bên đương sự không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Căn cứ quy định tại Khoản 1, Khoản 2 Điều 227; Khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử sơ thẩm quyết định xét xử vắng mặt đối với nguyên đơn, bị đơn.

Trong vụ án này, các đương sự đã tự giao nộp cho Tòa án các tài liệu, chứng cứ có liên quan đến việc giải quyết vụ án; bị đơn trong vụ án là ông C hiện đang định cư ở nước ngoài nhưng đã có bản tự khai và đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt; các đương sự cùng thừa nhận có mâu thuẫn và không còn thực tế chung sống, Tòa án không tiến hành thu thập tài liệu, chứng cứ để xác định nguyên nhân của việc phát sinh tranh chấp, không thực hiện thủ tục ủy thác tư pháp ra nước ngoài. Theo quy định tại Khoản 2 Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự, Viện kiểm sát không tham gia phiên tòa.

[2] Về nội dung:

Căn cứ bản tự khai của các đương sự và Giấy chứng nhận kết hôn số X1 do Ủy ban nhân dân quận P, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 08 tháng 10 năm 2018, có cơ sở để xác định quan hệ hôn nhân giữa nguyên đơn và bị đơn được xác lập trên cơ sở tự nguyện, được pháp luật thừa nhận.

Theo trình bày của nguyên đơn bà Dường Chỉ B và bị đơn ông C, mặc dù có thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn hợp pháp trên cơ sở tự nguyện nhưng hai người không thực tế chung sống, mọi mối liên hệ đều được thực hiện thông qua mạng xã hội. Mâu thuẫn vợ chồng phát sinh do tình cảm không hòa hợp, từ tháng 01 năm 2019 đến nay, hai người không còn liên hệ với nhau. Bà Dường Chỉ B khởi kiện yêu cầu được ly hôn, ông C cũng đồng ý.

Xét thấy, bà Dường Chỉ B và ông C không thực tế chung sống, cảnh sống mỗi người một nơi dẫn đến vợ chồng không thể thực sự quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, cùng nhau xây dựng gia đình hạnh phúc. Mặc dù có ý định đoàn tụ và chung sống tại Đài Loan nhưng mâu thuẫn vợ chồng phát sinh, ý định này của nguyên đơn và bị đơn không thực hiện được. Hai người chỉ quen biết, tìm hiểu nhau trong thời gian ngắn rồi tiến tới hôn nhân nên tình cảm vợ chồng chưa thực sự sâu đậm, mâu thuẫn phát sinh mà không thể giải quyết được, cả hai đều có ý định ly hôn chứng tỏ khả năng hàn gắn, đoàn tụ gia đình đã không còn. Hội đồng xét xử sơ thẩm xét thấy có cơ sở để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, giải quyết cho bà Dường Chỉ B được ly hôn với ông C.

Về con chung: Bà Dường Chỉ B và ông C cùng trình bày giữa hai người không có con chung nên Tòa án không xem xét giải quyết. Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự trình bày không có, không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết. [3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn bà Dường Chỉ B phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên,

QUYẾT!ĐỊNH:!

- Căn cứ Khoản 2 Điều 21, Khoản 1 Điều 28, Khoản 3 Điều 35, Khoản 1 Điều 37, Điểm c Khoản 1 Điều 40, Khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Áp dụng các điều 19, 56, 121 và Điều 127 của Luật Hôn nhân và gia đình;

- Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

- Áp dụng Luật Thi hành án dân sự. I. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Dường Chỉ B: 1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Dường Chỉ B được ly hôn ông C. Giấy chứng nhận kết hôn số X1 do Ủy ban nhân dân quận P, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 08 tháng 10 năm 2018 không còn giá trị pháp lý. 2. Về con chung: Các đương sự trình bày giữa hai người không có con chung, không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết. 3. Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết. II. Án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn bà Dường Chỉ B phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng đương sự đã nộp theo biên lai thu tiền số AA/2018/0013013 ngày 17 tháng 4 năm 2019 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh, đương sự đã thi hành xong án phí sơ thẩm. III. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn bà Dường Chỉ B có quyền kháng cáo để được xem xét lại vụ án theo trình tự phúc thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết; bị đơn ông C cư trú ở nước ngoài không có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo để được xem xét lại vụ án theo trình tự phúc thẩm trong thời hạn 01 (một) tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được áp dụng theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ