- Tranh chấp gì? "Phan Minh T phạm tội "Cướp guật tài sản" - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng, sửa b n án sơ thẩm.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; luật T tụng hình sự; Bộ luật Hình sự
| T A ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM Đ NG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| n án s : 106/2018/HS-PT Ngày: 18-12-2018 |
NHÂN DANH
NƯ C CỘNG H A XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM Đ NG
- T phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Ông Phan Minh Dũng
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Hữu Hồng
Ông Huỳnh Văn Hiệp
- Thư ký phiên tòa: Bà Đào Thị Lương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Đào - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 12 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý s 137/2018/TLPT-HS, ngày 30/11/2018 đ i với bị cáo Phan Minh T; do kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng đ i với b n án hình sự sơ thẩm s 48/2018/HSST ngày 17/10/2018 của Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Lâm Đồng.
- Bị cáo bị kháng nghị: Phan Minh T; sinh năm 1994 tại tỉnh Hà Tĩnh; nơi cư trú: thôn 4, xã Lộc Phú, huyện o Lâm, tỉnh Lâm Đồng; dân tộc: Kinh; qu c tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; trình độ văn hóa: lớp 12/12; nghề nghiệp: làm vườn; Là Đ ng viên Đ ng Cộng S n Việt Nam, đến ngày 09/5/2018 bị xóa tên trong danh sách Đ ng viên; b , mẹ ruột đã chết; b nuôi Phan Văn ình, sinh năm 1966; mẹ nuôi Nguyễn Thị T, sinh năm 1965; vợ con: chưa có; tiền án, tiền sự: không;
ị bắt tạm giam ngày 15/5/2018, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện o Lâm. Có mặt.
Trong vụ án có bị hại là bà Nguyễn Thị T, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là Phan Văn Bình không kháng cáo.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào kho ng 09 giờ ngày 14/5/2018 Phan Minh T điều khiển xe máy Vision màu đen đỏ biển s 49H1- 337.96 chở bà Nguyễn Thị T (là mẹ nuôi của T) ra thành ph
o Lộc để lấy thẻ ATM và khám bệnh. Trên đường ra o Lộc, T ghé đổ xăng thì phát hiện túi đựng tiền của bà T để trong c p xe nên n y sinh ý định chiếm đoạt tài s n. T không thẳng đường Qu c lộ 725 mà điều khiển xe đi đường Lộc Qu ng, o Lâm. Thấy vậy bà T hỏi “Sao đi đường này” thì T nói “Vào nhà bạn lấy đồ”. Khi T điều khiển xe đến thôn 1 xã Lộc Qu ng, lợi dụng đường vắng người qua lại nên T móc điện thoại trong túi quần bên trái ra rồi c ý làm rơi điện thoại, chạy được một đoạn thì T dừng xe lại để bà T xu ng nhặt điện thoại. Khi bà T xu ng xe đang nhặt điện thoại thì T điều khiển xe máy bỏ chạy về hướng thành ph
o Lộc. Khi chạy xe đến đường Hà Giang phường Lộc Sơn, thành ph
o Lộc thì T dừng xe kiểm tra phát hiện trong c p xe có 03 cọc tiền Việt Nam, tiền đôla Mỹ và nhiều giấy tờ khác, T lấy 02 cọc tiền, còn 01 cọc tiền, s tiền đô la Mỹ và các giấy tờ khác bỏ vào bịch nylong màu đen, rồi gửi lại nhà chị Nguyễn Thị D tại tổ 10, phường Lộc Sơn, thành ph ph
o Lộc, rồi nhắn tin cho bà T ra nhà chị D lấy tiền và giấy tờ. Sau đó T điều khiển xe 49H1- 337.96 đi về hướng đèo o Lộc, khi đi đến xã Đại Lào, thành ph ph
o Lộc thì bị lực lượng tại đèo o Lộc bắt giữ. Qua kiểm đếm xác định tổng s tiền trong 02 cọc tiền trong c p xe của T là 66.610.000đ và các giấy tờ tùy thân của T.
Sau khi nhận tin nhắn của T thì bà T nhờ chồng là Phan Văn đến nhà chị D lấy. Qua kiểm đếm trong bịch ny lon xác định có 01 cọc tiền Việt Nam tổng cộng 16.970.000đ và 321 USD và các giấy tờ cá nhân của bà T và ông . Theo kết luận định giá tài s n s 46/KLĐG ngày 17/5/2018 của Hội đồng định giá tài s n t tụng hình sự huyện xác định: Xe môtô Honda Vision màu đỏ đen, biển s 49H1- 337.96, đã qua sử dụng có giá là 25.000.000đ.
Cáo trạng s 42/CTr-VKS L ngày 20/8/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện truy t Phan Minh T về tội “Cướp giật tài s n” theo điểm c kho n 2 Điều 171 LHS.
n án s 48/2018/HSST ngày 17/10/2018 của Tòa án nhân dân huyện tuyên b bị cáo Phan Minh T phạm tội “Cướp giật tài s n”.
Áp dụng kho n 2 Điều 171; điểm h, s kho n 1, kho n 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 ộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Phan Minh T 15 tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15/5/2018.
n án còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.
Quyết định s 935/QĐ-VKS-P7 ngày 12/11/2018 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng kháng nghị không áp dụng điểm h kho n 1 Điều 51; Điều 54 ộ luật Hình sự tăng hình phạt đ i với bị cáo T, buộc bị cáo ph i chấp hành hình phạt theo điểm c kho n 2 Điều 171 ộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng đề nghị chấp nhận kháng nghị, sửa b n án sơ thẩm theo hướng xử phạt bị cáo từ 03 đến 04 năm tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA T A ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Trên đường chở bà Nguyễn Thị T (mẹ nuôi của T) ra o Lộc để lấy thẻ ATM và khám bệnh, khi ghé Cát Quế đổ xăng thì phát hiện túi đựng tiền của bà T để trong c p xe nên T n y sinh ý định chiếm đoạt tài s n. Sau khi đổ xăng, T điều khiển xe đến ngã ba Minh Rồng, T không đi thẳng đường Qu c lộ 725 mà điều khiển xe rẽ ph i hướng xã Lộc Qu ng; lợi dụng đường vắng người nên T móc điện thoại trong túi quần ra rồi c ý làm rơi, khi bà T xu ng xe nhặt điện thoại thì T điều khiển xe máy tẩu thoát về hướng o Lộc, đến đường Hà Giang T dừng xe mở c p lấy 02 cọc tiền, còn 01 cọc tiền, tiền đô la Mỹ và các giấy tờ khác bỏ vào bịch nylon gửi lại nhà chị Nguyễn Thị D, rồi nhắn tin cho bà T ra lấy tiền và giấy tờ. Sau đó T điều khiển xe 49H1- 337.96 đi về hướng đèo o Lộc thì bị bắt giữ. Qua kiểm đếm xác định tổng s tiền trong c p xe của T là 66.610.000đ.
Theo kết luận định giá tài s n s 46/KLĐG ngày 17/5/2018 của Hội đồng định giá tài s n t tụng hình sự huyện xác định: Xe môtô Honda Vision màu đỏ đen, biển s 49H1- 337.96, đã qua sử dụng có giá là 25.000.000đ. Đ i với s tài s n gửi nhà chị Dung qua kiểm đếm 16.970.000đ, riêng 321USD có giá tại thời điểm là 7.238.550đ. Tổng cộng tài s n chiếm đoạt là 115.818.550đ.
Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hành vi của bị cáo Phan Minh T đã cấu T tội “Cướp giật tài s n” theo quy định tại điểm c kho n 2 Điều 171 ộ luật Hình sự.
[2] Xét kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng:
Về thực hiện thủ tục t tụng: Cáo trạng s 42/CTr-VKSBL ngày 20/8/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện kết luận bị cáo chiếm đoạt 83.580.000đ tiền VND và giá trị chiếc xe 25.000.000đ, tổng cộng 108.580.000đ. Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát bổ sung thêm s tiền 321USD = 7.238.550đ, tổng cộng bị cáo chiếm đoạt 115.818.550đ, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận việc bổ sung này tại phiên tòa là vi phạm giới hạn của việc xét xử theo Điều 298 ộ luật T tụng hình sự, đại diện Viện kiểm sát vi phạm Điều 306 ộ luật T tụng hình sự, vì ý kiến bổ sung không được làm xấu đi tình trạng của bị cáo. Trường hợp này, Tòa án ph i tr hồ sơ để Viện kiểm sát nhân dân huyện B thay đổi b n Cáo trạng khác.
Xét cấp sơ thẩm có vi phạm thủ tục t tụng, nhưng vi phạm này là do Viện kiểm sát nhân dân huyện . Về s tiền chiếm đoạt, trong nội dung b n cáo trạng cũng đã nêu s tiền 321USD, b n án sơ thẩm xác định tổng s tiền bị cáo chiếm đoạt 115.818.550đ là đúng với b n chất của vụ án, kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng cho rằng bị cáo chỉ có ý thức chiếm đoạt 91.610.000đ là không đúng. Do đó, không cần thiết ph i hủy b n án sơ thẩm.
Về áp dụng tình tiết gi m nhẹ trách nhiệm hình sự: Cấp sơ thẩm xác định tài s n chiếm đoạt đã được thu hồi và tr lại cho bị hại, áp dụng tình tiết gi m nhẹ quy định tại điểm h kho n 1 Điều 51 ộ luật Hình sự (phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn) là không chính xác, vì khi bị cáo chiếm đoạt được là đã có thiệt hại, tổng giá trị chiếm đoạt 115.818.550đ là lớn, việc thu hồi tr lại cho bị hại là nằm ngoài ý mu n của bị cáo. Hồ sơ thể hiện sau khi T điều khiển xe máy tẩu thoát về hướng o Lộc, đến đường Hà Giang T dừng xe mở c p lấy 02 cọc tiền, còn 01 cọc tiền, tiền đô la Mỹ và các giấy tờ khác bỏ vào bịch nylon gửi lại nhà chị Nguyễn Thị D, rồi nhắn tin cho bà T ra lấy tiền và giấy tờ, tổng s tiền bị cáo gửi lại là 24.208.550đ, đây là tình tiết gi m nhẹ theo kho n 2 Điều 51 ộ luật Hình sự cũng cần xem cho bị cáo.
Về mức hình phạt: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài s n hợp pháp của công dân, gây nh hưởng xấu đến tình hình trị an xã hội tại địa phương, s tiền chiếm đoạt lớn, mức hình phạt quy định từ 03 đến 10 năm, cấp sơ thẩm áp dụng thêm Điều 54 ộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo 15 tháng tù là nhẹ nên cần chấp nhận kháng nghị tăng hình phạt đ i với bị cáo. ị cáo chỉ có 01 tình tiết gi m nhẹ ở kho n 1 Điều 51 nên không được áp dụng Điều 54 ộ luật Hình sự.
[3] Về án phí: Bị cáo Phan Minh T không ph i chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b kho n 1 Điều 355; Điều 357 ộ luật T tụng hình sự năm 2015.
Chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng, sửa b n án sơ thẩm.
Tuyên b bị cáo Phan Minh T phạm tội “Cướp giật tài s n”.
Áp dụng điểm c kho n 2 Điều 171; điểm s kho n 1, kho n 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 ộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Phan Minh T 03 (ba) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15/5/2018.
Áp dụng Điều 135 ộ luật T tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết s 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Qu c hội về án phí và lệ phí tòa án. ị cáo Phan Minh T không ph i chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của b n án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
n án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Lâm Đồng; - Phòng KTNV&THA; - Sở Tư pháp tỉnh Lâm Đồng; - TAND huyện B; - VKSND huyện B; - Cơ quan CSĐT CA huyện B; - Cơ quan THAHS CA huyện B; - ị cáo; - Người tham gia t tụng; - Lưu hồ sơ; Án văn. | TM. HỘI Đ NG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Phan Minh Dũng |