vanban.org

Bản án 106/2026/HS-PT — Hình sự

Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 17/03/2026 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn Đ, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 162/2025/HSST ngày 12 tháng 12 năm 2026 của Tòa án nhân dân Đắk Lắk.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn Đ tù chung thân về tội "Giết người". Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 22/4/2024. Về án phí phúc thẩm: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Giết người - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn Đ, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 162/2025/HSST ngày 12 tháng 12 năm 2026 của Tòa án nhân dân Đắk Lắk.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 123 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ PHÚC THẨM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
TẠI ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 106/2026/HS- PT
Ngày: 17/3/2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: ông Phùng Anh Dũng.

Các thẩm phán: ông Nguyễn Tấn Long và bà Trần Thị Kim Liên.

- Thư ký phiên tòa: ông Lương Quang Toàn - Thư ký Toà phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng.

- Đại diện Viện Công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: ông Trần Đức Dương – Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 3 năm 2026, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Toà phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng và điểm cầu thành phần trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk, xét xử phúc thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số 11/2026/TLPT-HS ngày 21 tháng 01 năm 2026 đối với bị cáo Nguyễn Văn Đ, về tội "Giết người". Do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 162/2025/HSST ngày 12 tháng 12 năm 2026 của Tòa án nhân dân Đắk Lắk.

- Bị cáo có kháng cáo:

Nguyễn Văn Đ; tên gọi khác: Không; sinh ngày 27/02/1989, tại tỉnh Đắk Lắk; giới tính: Nam; nơi cư trú: thôn P, xã P, tỉnh Đắk Lắk; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 09/12; họ và tên cha: Nguyễn Văn Đ1, sinh năm 1964; họ và tên mẹ: Trần Thị N, sinh năm 1965; bị cáo có 01 chị, 02 em; họ và tên vợ: Nguyễn Thị C, sinh năm 1984 (đã ly hôn); iền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

+ Ngày 12/6/2013, bị Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên (nay là tỉnh Đắk Lắk) xử phạt 04 năm 06 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản", quy định tại khoản 2 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999.

+ Ngày 24/02/2012, bị Công an huyện P, tỉnh Phú Yên (nay là tỉnh Đắk Lắk) xử phạt vi phạm hành chính 2.000.000 đồng về hành vi Chống người thi hành công vụ.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam tại Trại tạm giam số 02, Công an tỉnh Đ từ ngày 22/4/2024 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Đặng Thanh Q – Luật sư thuộc Công ty L, Đoàn Luật sư tỉnh Đ; địa chỉ: Căn hộ A. DV01, tầng 01, tòa nhà khu A, dự án phát triển nhà ở xã hội, đường T, phường T, tỉnh Đắk Lắk. Có mặt.

Ngoài ra, trong vụ án còn có đại diện hợp pháp người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng nhưng không có kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 21/4/2025, Nguyễn Văn Đ cùng các anh Mai Quốc H, Nguyễn Minh S, Mai Trọng T ăn nhậu tại sân nhà anh T ở thôn P, xã P, tỉnh Đắk Lắk, Đ với các anh H, S cãi nhau về việc Đ thể hiện quen biết nhiều người, anh T bảo Đ đi về; Đ điều khiển xe mô tô đi cách nhà anh T 53,3m dừng lại chửi to tiếng, S đi đến để khuyên Đ đi về, Đ mở cốp xe mô tô lấy 01 cây dùi cui bằng kim loại (gậy 02 khúc) số hiệu SHY BOTN TH – 26, dài 60,9cm, đầu to nhất được bọc bằng cao su đường kính 2,85cm, đầu nhỏ nhất đường kính 1,18cm, cầm tay phải rượt đuổi đánh anh S 03 cái trúng vai phải, cánh tay phải, cẳng chân phải, anh S chạy vào nhà anh T; cùng lúc này, các anh H, T nghe tiếng đánh nhau nên chạy đến nơi Đ; anh H chạy trước, anh T chạy sau, Đ tay phải cầm dùi cui bằng kim loại đang trên đường rượt theo anh S, Đ dùng dùi cui bằng kim đánh anh H 03 cái theo hướng từ trên xuống trúng vào đầu anh H gây vỡ lún sọ, sụp vào trong; anh H ôm đầu chạy vào nhà anh T; Đ tiếp tục dùng dùi cui bằng kim loại đánh anh T 06 cái, anh T né tránh và dùng tay đỡ nên trúng má trái, tai trái, cẳng tay phải, lưng, cẳng chân phải, anh T chạy vào nhà thấy đầu anh H chảy nhiều máu nên cùng anh S gọi điện báo Công an và gọi xe đưa anh H đến Bệnh viện Đ2 cấp cứu.

- Kết luận giám định tử thi số 53 ngày 14/5/2025 của Trung tâm pháp y tỉnh P (nay là tỉnh Đắk Lắk) kết luận: Anh M Quốc Hội chết do chấn thương sọ não rất nặng. Vật tác động: vật tày + vật tày có cạnh.

- Kết luận giám định bổ sung tổn thương cơ thể trên người sống số 208, 209 ngày 18/6/2025 của Trung tâm pháp y tỉnh P (nay là tỉnh Đắk Lắk) kết luận: Anh Mai Trọng T bị thương tích 07%. Anh Nguyễn Minh S bị thương tích 05%. Ngày 05/6/2025, các ông Mai Trọng T, Nguyễn Minh S có đơn không yêu cầu khởi tố.

- Tại Kết luận giám định số 450 ngày 30/6/2025 của Phòng K Công an tỉnh P (nay là tỉnh Đắk Lắk) kết luận: 01 cây kim loại cán tay cầm bọc cao su màu đen có số hiệu “SHY BOTN TH – 26” là dùi cui kim loại, thuộc phụ lục 4 “Danh mục công cụ hỗ trợ” Thông tư số 75/2024/TT-BCA ngày 15/11/2024 của Bộ trưởng Bộ C1. Gậy kim loại trên còn sử dụng được bình thường.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 162/2025/HSST ngày 12 tháng 12 năm 2026, Tòa án nhân dân Đắk Lắk đã quyết định:

Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123, điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 39 Bộ luật hình sự; xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn Đ tù chung thân về tội "Giết người". Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt, tạm giữ, tạm giam ngày 22/4/2024.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 15/12/2025, bị cáo Nguyễn Văn Đ có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên toà phúc thẩm:

- Bị cáo Nguyễn Văn Đ giữ nguyên nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

- Luật sư Đặng Thanh Q bào chữa cho bị cáo cho rằng: Ý thức của bị cáo là không mong muốn dẫn đến cái chết của bị hại. Bị hại, bị cáo và những người liên quan nhậu trong khoảng thời gian dài dẫn đến bị cáo không đủ tỉnh táo. Tại phiên toà sơ thẩm đại diện Viện kiểm sát đề nghị mức án từ 18-19 năm tù. Tuy nhiên Tòa sơ thẩm xử phạt bị cáo tù chung thân là quá nặng. Bị cáo Nguyễn Văn Đ không có tình tiết tăng nặng; có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như: ăn năn hối cải, đã tác động gia đình khắc phục hậu quả bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại số tiền 240.000.000 đồng; có ông, bà ngoại là người có công với Cách mạng; được người đại diện hợp pháp của bị hại làm đơn xin giảm nhẹ hình phạt, quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 và khoản 2 Điều 51 BLHS. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo.

- Đại diện Viện Công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Đà Nẵng phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án cho rằng: Mức hình phạt tù chung thân mà Tòa án cấp sơ thẩm tuyên phạt đối với bị cáo là phù hợp. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:

Về tố tụng: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 162/2025/HSST ngày 12/12/2025, Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm đối với bị cáo Nguyễn Văn Đ về tội "Giết người"; ngày 15/12/2025, bị cáo Đ kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Kháng cáo của bị cáo Đ là đúng chủ thể, trong thời hạn luật định nên được Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng thụ lý và đưa ra xét xử tại phiên toà hôm nay theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự.

Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phúc thẩm, thấy phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng trong quá trình điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử phúc thẩm có đủ cơ sở để kết luận:

Vào khoảng 22 giờ 30 phút, ngày 21/4/2024, tại thôn P, xã P, tỉnh Đắk Lắk, chỉ vì mâu thuẫn nhỏ nhặt trong quá trình ăn nhậu, bị cáo Nguyễn Văn Đ đã sử dụng dùi cui kim loại đánh vào đầu gây chấn thương sọ não, hậu quả làm ông Mai Văn H1 tử vong. Ngoài ra, bị cáo còn có hành vi gây thương tích cho ông Mai Trọng T bị thương tích 07%, ông Nguyễn Minh S bị thương tích 05% nhưng các ông T, S không có đơn không yêu cầu khởi tố.

Do đó, Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk đã kết tội bị cáo Nguyễn Văn Đ về tội “Giết người” quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội.

Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Văn Đ, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng: Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn Đ đã trực tiếp xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của người khác, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực, trách nhiệm hình sự và biết rõ tính mạng, sức khỏe con người là vốn quý được pháp luật bảo vệ. Mọi hành vi xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của người khác trái pháp luật đều bị pháp luật trừng trị nghiêm khắc nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Khi quyết định hình phạt, Toà án cấp sơ thẩm đã đánh giá tính chất, mức độ, hành vi phạm tội do bị cáo gây ra là đặc biệt nghiêm trọng, đồng thời đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như: Sau khi phạm tội, tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã ăn năn hối cải về hành vi của mình; bị cáo đã tác động gia đình khắc phục hậu quả bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại số tiền 240.000.000 đồng; bị cáo có ông, bà ngoại là người có công với Cách mạng; được người đại diện hợp pháp của bị hại làm đơn xin giảm nhẹ hình phạt nên được xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ hình phạt theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Mức hình phạt tù chung thân Toà án cấp sơ thẩm xử phạt đối với bị cáo Nguyễn Văn Đ là phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ và hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo. Tại phiên toà hôm nay, những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà luật sư, bị cáo nêu ra đã được Toà án cấp sơ thẩm xem xét, áp dụng đối với bị cáo. Do đó không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo.

Tại phiên toà, đại diện Viện Công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Đà Nẵng đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn Đ và giữ nguyên bản án sơ thẩm là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo Nguyễn Văn Đ phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định pháp luật.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không đề cập xem xét giải quyết.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn Đ, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 162/2025/HSST ngày 12 tháng 12 năm 2026 của Tòa án nhân dân Đắk Lắk.

2. Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123, điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 39 Bộ luật hình sự;

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn Đ tù chung thân về tội "Giết người". Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 22/4/2024.

3. Về án phí phúc thẩm: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

Bị cáo Nguyễn Văn Đ phải chịu 200.000đ án phí hình sự phúc thẩm.

4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, nghĩa vụ chịu án phí sơ thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ