- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn T - trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1] Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 106/2026/HS-PT Ngày: 22 – 4 – 2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lưu Thị Thu Hường.
Các Thẩm phán: Ông Võ Nguyên Tùng; Bà Nguyễn Thị Thu Trang.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Minh Chi – Thư ký TAND tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Biện Tấn Hoàng - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 4 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 57/TLPT-HS ngày 10/3/2026, đối với bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 59/2025/HS-ST ngày 18/12/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 11 - tỉnh Đắk Lắk Đắk Lắk.
Họ và tên: Nguyễn Văn T; sinh ngày 06/3/1999 tại Đắk Lắk; Nơi cư trú: thôn P, xã P, Đắk Lắk; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn D, sinh năm: 1975 và bà Lê Thị S, sinh năm: 1979;
Tiền án: Ngày 16/9/2023, bị Tòa án nhân dân huyện Phú Hòa, tỉnh Phú Yên xử phạt 02 năm tù về tội Gây rối trật tự công cộng, chấp hành xong hình phạt tù ngày 24/12/2024;
Tiền sự: Không;
Nhân thân:
+ Ngày 02/5/2018, bị Công an xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên xử phạt vi phạm hành chính, phạt tiền 1.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản.
+ Ngày 25/7/2019, bị Tòa án nhân dân huyện Phú Hòa, tỉnh Phú Yên tuyên phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, đã chấp hành xong.
+ Ngày 11/5/2021, bị Công an xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên xử phạt vi phạm hành chính số tiền 750.000 đồng về hành vi Cố ý gây thương tích.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/8/2025. Có mặt.
Trong vụ án còn có 02 bị cáo và 10 bị hại nhưng không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do không có tiền tiêu xài cá nhân nên Nguyễn Văn T và Nguyễn Trọng N cùng bàn bạc thống nhất với Nguyễn Thị N1 về việc đi bắt trộm chó của người dân trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk đem về cho N1 bán. Khoảng 21 giờ ngày 27/8/2025, T mang theo 01 cây gậy có dây thòng lọng gắn điện, 01 bình ắc quy, 01 bình xịt hơi cay, 01 cây đèn pin, băng keo rồi điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter (không xác định số khung, số máy) chở N đến nhà của N1 tại khu phố P, phường P, tỉnh Đắk Lắk thay quần áo, lấy một số vật dụng tại nhà N1, gồm 10 cái bao cước, 01 chai đựng ớt bột, 01 vỏ chai thuỷ tinh 01 cái ná cao su để chống trả khi bị phát hiện. N lấy biển số giả tại nhà N1 gắn lên xe, rồi điều khiển xe mô tô chở T đi dọc các tuyến đường trên địa bàn các xã, phường thuộc tỉnh Đắk Lắk để tìm chó bắt trộm. Khi gặp chó không có người trông coi, N điều khiển xe mô tô áp sát lại gần, T ngồi sau dùng đèn pin rọi thẳng vào mắt của chó để chó đứng yên, dùng gậy có gắn dây thòng lọng đưa vào cổ chó rồi kích điện làm chó bất tỉnh, dùng băng keo quấn miệng chó lại, bỏ vào bao treo trên xe rồi tiếp tục đi tìm chó để bắt trộm tiếp. Với phương thức thủ đoạn trên, từ đêm ngày 27/8/2025 đến sáng ngày 28/8/2025, N và T đã bắt trộm được 10 con chó, cụ thể:
- Tại đường ĐH27 thuộc khu phố Â, phường T, tỉnh Đắk Lắk, Nguyễn Văn T và Nguyễn Trọng N bắt trộm 01 con chó có lông màu nâu, trọng lượng 09kg của anh Nguyễn Văn T1.
- Tại đường bê tông liên thôn thuộc thôn T, xã S, tỉnh Đắk Lắk, T và N bắt trộm 01 con chó có lông màu trắng - đen, trọng lượng 12kg của anh Nguyễn K.
- Tại đường bê tông liên thôn thuộc thôn L, xã S, tỉnh Đắk Lắk, T và N bắt trộm 01 con chó có lông màu vàng, trọng lượng 10,9kg của anh Lương Quốc T2.
- Tại đường Q thuộc buôn T, xã S, tỉnh Đắk Lắk, T và N bắt trộm 01 con chó có lông màu vàng, trọng lượng 7,9kg của anh Ksơr Y B.
- Tại đường bê tông liên thôn thuộc thôn M, xã S, tỉnh Đắk Lắk, T và N bắt trộm 01 con chó có lông màu đen, trọng lượng 5,6kg của chị Nguyễn Như Ý.
- Tại đường Q thuộc buôn H, xã S, tỉnh Đắk Lắk, T và N bắt trộm 01 con chó có lông màu xám, trọng lượng 11kg của anh Nguyễn Trung H.
- Tại đường bê tông liên thôn thuộc thôn Đ, xã S, tỉnh Đắk Lắk, T và N bắt trộm 01 con chó có lông màu đen, trọng lượng 8,9kg của anh Trần Quốc T3.
- Tại đường bê tông liên thôn C, xã Đ, tỉnh Đắk Lắk T và N bắt trộm 01 con chó màu lông trắng – xám, trọng lượng 9,1kg của anh Phạm Huy H1.
- Tại đường bê tông liên thôn B, xã Đ, tỉnh Đắk Lắk, T và N bắt trộm 01 con chó màu lông vàng, trọng lượng 11,3kg của anh Đào Văn T4.
- Tại đường bê tông liên thôn thuộc thôn B, xã Đ, tỉnh Đắk Lắk, T và N bắt trộm 01 con chó màu lông xám, trọng lượng 11kg của anh Bùi Văn N2. Đến khoảng 01 giờ ngày 28/8/2025, T và N chở 10 con chó bắt trộm được đến nhà của N1 tại khu phố P, phường P, tỉnh Đắk Lắk để cân tính tiền thì bị Cơ quan Công an phát hiện, giữ người trong trường hợp khẩn cấp, thu giữ toàn bộ tang vật.
Kết luận định giá tài sản số 268 ngày 05/9/2025 của Hội đồng định giá thường xuyên tỉnh Đắk Lắk kết luận: 10 con chó có tổng trọng lượng 96,7kg, giá trị 4.835.000 đồng.
Tại Bản án Hình sự sơ thẩm số 59/2025/HS-ST ngày 18/12/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 11 - tỉnh Đắk Lắk Đắk Lắk đã quyết định:
Tuyên bố: các bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Trọng N và Nguyễn Thị N1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 28/8/2025.
Án sơ thẩm còn quyết định hình phạt đối với 02 bị cáo khác, tuyên về xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo.
Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Văn T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.
Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk: Cấp sơ thẩm tuyên xử bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Cấp sơ thẩm không áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo là thiếu sót, đề nghị bổ sung. Tuy nhiên, bị cáo có nhân thân xấu, nên cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 01 năm tù là thỏa đáng, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên quyết định của án sơ thẩm.
Bị cáo không tranh luận gì, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ cơ sở kết luận: Do không có tiền tiêu xài cá nhân nên Nguyễn Văn T và Nguyễn Trọng N cùng bàn bạc thống nhất với Nguyễn Thị N1 về việc đi bắt trộm chó của người dân trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk đem về cho N1 bán. Vào khoảng 21 giờ ngày 27/8/2025 đến 01 giờ ngày 28/8/2025, tại các tuyến đường thuộc các xã, phường thuộc tỉnh Đắk Lắk, Nguyễn Văn T, Nguyễn Trọng N đã thực hiện bắt trộm 10 con chó của các ông bà Nguyễn Văn T1, Nguyễn K, Lương Quốc T2, Ksơr Y, Nguyễn Trung H, Trần Quốc T3, Phạm Huy H1, Đào Văn T4, Bùi Văn N2 và Nguyễn Như Ý, tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 4.835.000 đồng. Cấp sơ thẩm tuyên xử các bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Văn T, Hội đồng xét xử xét thấy:
Bị cáo Nguyễn Văn T là người chuẩn bị công cụ và gọi điện rủ bị cáo N cùng đi trộm cắp tài sản (BL 225). Cả hai đều tham gia tích cực, trong tối ngày 27/8/2025, bị cáo T cùng bị cáo N đã thực hiện bắt trộm 10 con chó. Các bị cáo còn mang theo 01 bình xịt hơi cay, ớt bột, ná cao su để chống trả khi bị phát hiện. Mặc dù giá trị tài sản trộm cắp không lớn nhưng hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương và gây hoang mang, bức xúc trong quần chúng nhân dân. Cấp sơ thẩm không áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo là thiếu sót, cần bổ sung. Tuy nhiên, xét bị cáo có nhân thân xấu, phạm tội với 1 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự nên việc áp dụng hình phạt nghiêm khắc dành cho bị cáo là cần thiết. Cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo T 01 năm tù là thỏa đáng, có như vậy mới có tác dụng cải tạo, giáo dục đối với bị cáo. Do đó, không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên quyết định của án sơ thẩm như quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.
Về án phí: Do không được chấp nhận kháng cáo nên bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự.
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 59/2025/HS-ST ngày 18/12/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 11 - tỉnh Đắk Lắk.
[2] Về điều luật áp dụng và mức hình phạt:
Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 01 (một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 28/8/2025.
[3] Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[5] Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND Tối Cao; - VKSND tỉnh Đắk Lắk (02 bản); - Phòng HSNV Công an tỉnh Đắk Lắk; - Văn phòng CQCSĐT Công an tỉnh Đắk Lắk; - Trại tạm giam Công an tỉnh Đắk Lắk; - Sở Tư pháp tỉnh Đắk Lắk; - TAND khu vực 11; - VKSND khu vực 11; - Phòng THADS khu vực 11; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lưu Thị Thu Hường |