vanban.org

Bản án 106/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn do nguyên nhân khác

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do nguyên nhân khác — án hôn nhân và gia đình — "Võ Thị Thu Sương - Phạm Hoàng Thanh"
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; luật phá sản và luật hòa giải; luật tố tụng hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 16 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 106/2026/HNGĐ - ST
Ngày 11 – 3 – 2026
V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Khánh Linh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Lê Thị Thiện;

2. Bà Nguyễn Thị Túy Phượng.

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Hoàng Tấn là thư ký Tòa án nhân dân khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Trang – Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 3 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 444/2025/HNGĐ - ST ngày 14 tháng 10 năm 2025 về việc ly hôn, tranh chấp nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 383/2025/QĐXXST- HNGĐ ngày 31 tháng 12 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 34/2026/QĐST-HNGĐ ngày 22 tháng 01 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số 41/2026/QĐST-HNGĐ ngày 09 tháng 02 năm 2026, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Võ Thị Thu S, sinh năm 1986; địa chỉ: 102 ấp An Phú, phường Thuận An, Thành phố Hồ Chí Minh (có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt).

2. Bị đơn: Ông Phạm Hoàng T, sinh năm 1980; địa chỉ: 102 ấp An Phú, phường Thuận An, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và quá trình tố tụng, nguyên đơn bà Võ Thị Thu S trình bày:

Bà Võ Thị Thu S và ông Phạm Hoàng T tự nguyện tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số 33/2006, quyển số 1 ngày 07/8/2006 tại UBND xã An Sơn, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương. Sau khi kết hôn, vợ chồng bà S chung sống hạnh phúc được một thời gian sau đó phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do tính tình không phù hợp, bất đồng quan điểm sống nên bà S và ông T thường xuyên xảy ra cãi vã nhau khiến cuộc sống gia đình luôn căng thẳng, ngột ngạt không hạnh phúc. Nay bà S xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, cả hai không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau nên yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Phạm Hoàng T.

Về con chung: Quá trình chung sống, bà S và ông T có 02 người con chung tên Phạm Thị Yến N, sinh ngày 04/10/2009 và Phạm Khánh H, sinh ngày 08/8/2007. Sau khi ly hôn, bà S yêu cầu giao cháu Nhi cho ông T tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, bà S không phải cấp dưỡng nuôi con. Con chung Phạm Khánh H đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Chứng cứ do nguyên đơn cung cấp gồm: Giấy chứng nhận kết hôn, giấy khai sinh của cháu N và H; căn cước công dân của bà S, hộ khẩu gia đình, đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt của bà S.

Quá trình tố tụng, bị đơn ông Phạm Hoàng T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng đều vắng mặt và không nộp cho Tòa án văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn không chấp hành pháp luật.

- Về nội dung vụ án: Đại diện Viện kiểm sát nhận thấy giữa bà S và ông T đã xảy ra nhiều mâu thuẫn, không còn quan tâm chăm sóc gì cho nhau, đã sống ly thân và không thể đoàn tụ để chung sống hạnh phúc. Do đó, bà S yêu cầu giải quyết ly hôn là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về con chung: Bà S yêu cầu giao cháu Phạm Thị Yến N, sinh ngày 04/10/2009 cho ông T trực tiếp nuôi dưỡng, bà S không cấp dưỡng nuôi con và nguyện vọng của cháu N cũng muốn được tiếp tục chung sống với cha là ông T vì từ trước đến nay các con chung đều do ông T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng nên để đảm bảo cho việc học tập, sinh sống và nguyện vọng của con chung đề nghị giao cháu Nhi cho ông T tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng. Con chung Phạm Khánh Hưng, sinh năm 2007 đã trưởng thành, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về sự có mặt của các đương sự: Nguyên đơn bà Võ Thị Thu S vắng mặt nhưng có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt; ông Phạm Hoàng T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không lý do nên căn cứ Điều 227, 228 và Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn bà Võ Thị Thu S khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, tranh chấp nuôi con với bị đơn ông Phạm Hoàng T. Ông Phạm Hoàng T cư trú tại: 102 ấp An Phú, phường Thuận An, Thành phố Hồ Chí Minh nên quan hệ tranh chấp trong vụ án là Ly hôn, tranh chấp nuôi con và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân:

Bà Võ Thị Thu S và ông Phạm Hoàng T tiến đến hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số 33/2006 quyển số 1 ngày 07/8/2006 tại Ủy ban nhân dân xã An Sơn, huyện Thuận An, tỉnh Bình Dương (nay là Ủy ban nhân dân phường Thuận An, Thành phố Hồ Chí Minh) nên quan hệ hôn nhân giữa bà S và ông T là hợp pháp. Quá trình chung sống cả hai đã xảy ra nhiều mâu thuẫn nên bà S khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông T.

Xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa người vợ và người chồng chỉ tồn tại bền vững dựa trên tình cảm thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình và khi có những bất đồng trong quan hệ vợ chồng thì phải cùng nhau tích cực hàn gắn, xóa bỏ những mâu thuẫn để duy trì tình cảm tốt đẹp của vợ chồng. Quan hệ hôn nhân giữa bà S và ông T không đạt được các yếu tố của một gia đình hạnh phúc. Bà S xác định giữa bà và ông T đã xảy ra nhiều mâu thuẫn, vợ chồng thường xuyên gây gỗ cãi vã khiến cho gia đình không hạnh phúc và đã sống ly thân từ năm 2017. Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng ông T không đến Tòa án làm việc, không cung cấp văn bản trình bày ý kiến và tài liệu chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, chứng tỏ ông T không quan tâm và không mong muốn hàn gắn, đoàn tụ với bà S. Do đó, Hội đồng xét xử có căn cứ xác định tình trạng hôn nhân giữa bà S và ông T đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà S.

Về con chung: Bà S và ông T có 02 người con chung tên Phạm Thị Yến N, sinh ngày 04/10/2009 và Phạm Khánh H, sinh ngày 08/8/2007. Sau khi ly hôn, bà S yêu cầu giao cháu N cho ông T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, bà S không phải cấp dưỡng nuôi con. Do từ trước đến nay cháu Nhi vẫn do ông T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và đang học phổ thông vì vậy để đảm bảo ổn định chỗ ở, sinh hoạt, học tập cũng như nguyện vọng của con chung, Hội đồng xét xử giao cháu N cho ông T được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục và bà S không phải cấp dưỡng nuôi con. Con chung Phạm Khánh H, sinh năm 2007, đã trưởng thành nên không giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

Từ những nhận định trên, có cơ sở chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Võ Thị Thu S.

Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa về nội dung vụ án là có cơ sở và phù hợp pháp luật nên chấp nhận.

Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Các Điều 28, 35, 39, 147, 266, 238, 271, Điều 273 của Bộ luật tố

tụng dân sự;

- Các Điều 51, 56, 57 và Điều 58 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

- Khoản 2 Điều 1 của Luật số 85/2025/QH15 ngày 25 tháng 6 năm 2025 về sửa đổi, bổ sung một số điều của bộ luật tố tụng dân sự, luật tố tụng hành chính, luật tư pháp người chưa thành niên, luật phá sản và luật hòa giải, đối thoại tại tòa án.

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phíTòa án.

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Võ Thị Thu S về việc Ly hôn, tranh chấp nuôi con đối với bị đơn ông Phạm Hoàng T.

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Võ Thị Thu S được ly hôn với ông Phạm Hoàng T.

- Về con chung: Giao cho ông Phạm Hoàng T được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung tên Phạm Thị Yến N, sinh ngày 04/10/2009 và bà Võ Thị Thu S không phải cấp dưỡng nuôi con. Con chung Phạm Khánh H, sinh năm 2007, đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

2. Về án phí: Bà Võ Thị Thu S phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ toàn bộ số tiền tạm ứng ăn phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 00024575 ngày 09 tháng 10 năm 2025 của Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.

Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết hợp lệ.

Trường hợp Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ