- Tranh chấp gì? Tranh chấp về chia tài sản sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "Trần Thị T - Lâm Quốc V"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận cho chị Trần Thị T được ly hôn với anh Lâm Quốc Vĩnh .
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 106/2026/HNGĐ-ST Ngày 10 tháng 6 năm 2026. V/v tranh chấp ly hôn và nuôi con chung |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Thanh Toàn
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phạm Đức Hoài
Ông Trần Văn Minh
- Thư ký phiên tòa: Ông Cao Vũ Linh – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 7 - An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7 - An Giang tham gia phiên tòa: Bà Lai Thị Ngọc Mãi – Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 6 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 7 - An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 142/2026/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 11 năm 2025 về việc “Tranh chấp xin ly hôn, nuôi con chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 135/2026/QĐXXST-HNGĐ, ngày 21 tháng 4 năm 2026; Quyết định hoãn phiên tòa số 139/2026/QĐST-HNGĐ ngày 14 tháng 5 năm 2026 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trần Thị T, sinh ngày 13/5/1992
Căn cước công dân số: xxxxxxxxxxxx do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 25/9/2022.
Địa chỉ: Ấp R, xã T, tỉnh An Giang.
- Bị đơn: Anh Lâm Quốc V, sinh năm 1989
Chứng minh nhân dân số: xxxxxxxxx do Công an tỉnh K cấp.
Địa chỉ: Ấp L, xã A, tỉnh An Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 27/8/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Trần Thị T trình bày: Chị T và anh V tự nguyện yêu thương nhau, tiến hành tổ chức đám cưới theo phong tục tập quán và đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện A, tỉnh Kiên Giang nay là xã A, tỉnh An Giang vào ngày 02/5/2012. Trong đời sống chung vợ chồng, chị T và anh V thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, anh V không làm tròn trách nhiệm của người chồng, người cha trong gia đình. Anh thường xuyên tụ tập bạn bè ăn nhậu, không quan tâm đến cuộc sống, tình cảm của vợ con, từ đó tình cảm vợ chồng ngày càng phai nhạt, hiện tại mâu thuẫn tình cảm vợ chồng đã thật sự trầm trọng, không thể hàn gắn được. Nay chị T yêu cầu được ly hôn với anh Lâm Quốc Vĩnh .
Về con chung: Trong thời gian chung sống chị T và anh V có một người con chung là Lâm Hải A, sinh ngày 22/3/2012. Chị T có nguyện vọng nuôi cháu Hải A đến tuổi trưởng thành, chị T không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản và nợ chung: Chị T xác nhận không tranh chấp nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong quá trình Tòa án thụ lý, giải quyết đã nhiều lần tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng cho bị đơn anh Lâm Quốc V nhưng anh V đều vắng mặt.
Tại phiên tòa chị T vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7 phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng, từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử sơ thẩm Thẩm phán chủ tọa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về trình tự thủ tục giải quyết vụ án. Riêng anh Lâm Quốc V vi phạm các Điều 70 và 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Về nội dung vụ án thì xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng:
Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn anh Lâm Quốc V có địa chỉ cư trú tại Ấp L, xã A, tỉnh An Giang, theo quy định tại Điều 35, 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 7 – An Giang.
Về sự vắng mặt của đương sự:
Bị đơn anh Lâm Quốc V đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do nên căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định pháp luật.
Nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh V kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện A, tỉnh Kiên Giang nay là xã A, tỉnh An Giang vào ngày 02/5/2012. Chị T và anh V đều đã đủ tuổi trưởng thành, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ khi đăng ký kết hôn do đó có cơ sở xác định đây là hôn nhân hợp pháp.
Trong quá trình chung sống, chị T và anh V thường xuyên phát sinh mâu thuẫn do trong cuộc sống gia đình chị và anh V không có tiếng nói chung. Theo chị T trình bày mâu thuẫn vợ chồng xuất phát từ việc anh V không làm tròn trách nhiệm của người chồng, người cha trong gia đình. Trong cuộc sống hàng ngày anh chỉ ham mê thú vui riêng của mình, bỏ mặc đời sống vật chất, cũng như đời sống tình cảm đối với chị T, không quan tâm, chăm sóc đến vợ và con. Mặc dù chị đã nhiều lần khuyên can, nhắc nhỡ nhưng anh V vẫn không thay đổi, thậm chí còn giành nhiều thời gian hơn nữa vào thú vui riêng của mình. Từ đó tình cảm vợ chồng ngày càng mâu thuẫn nghiêm trọng, đến nay không thể khắc phục được nữa. Chị T và anh V đã sống ly thân khoảng 08 năm nay. Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn tình cảm vợ chồng giữa chị T và anh V đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập hợp lệ anh V để ghi nhận ý kiến của anh nhưng anh V đều vắng mặt, không trình bày ý kiến của anh đối với yêu cầu khởi kiện của chị T, qua đó thể hiện anh V đã không có nguyện vọng khắc phục mâu thuẫn, hàn gắn tình cảm vợ chồng giữa anh và chị T.
Từ những cơ sở nhận định trên, căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị Trần Thị T được ly hôn với anh Lâm Quốc V như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
Về con chung: Trong thời gian chung sống chị T và anh V có một người con là cháu Lâm Hải A, sinh ngày 22/3/2012. Chị T có nguyện vọng nuôi cháu Hải A đến tuổi trưởng thành và không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con cùng bà. Hiện cháu Hải A do chị T trực tiếp nuôi dưỡng, do đó để tạo mọi điều kiện tốt nhất cho cháu Hải A được phát triển toàn diện về thể chất lẫn tinh thần, đảm bảo quyền và lợi ích mọi mặt của con chung chưa thành niên nên xét thấy cần tiếp tục giao cháu Hải A cho chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp với nguyện vọng của cháu cũng như quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát Khu vực 7 nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Chị T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Căn cứ các Điều 58; 81; 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7 - An Giang là phù hợp.
Về tài sản chung: Chị Trần Thị T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết
Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc chị Trần Thị T phải chịu án phí sơ thẩm xin ly hôn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 227; khoản 3 Điều 228; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 58; Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Chấp nhận cho chị Trần Thị T được ly hôn với anh Lâm Quốc Vĩnh .
2. Về con chung: Giao cháu Lâm Hải A, sinh ngày 22/3/2012 cho chị T tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi cháu Hải A đủ 18 tuổi, chị T không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một hoặc các bên thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản chung: Chị Trần Thị T không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
4. Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
5. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Buộc chị Trần Thị T phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0009130 ngày 18/11/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh An Giang. Như vậy chị T đã nộp xong.
6. Về quyền kháng cáo:
Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh An Giang; - VKSND Khu vực 7-An Giang; - Phòng THADS Khu vực 7 - An Giang; - UBND xã An Biên, tỉnh An Giang; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thanh Toàn |