vanban.org

Bản án 106/2025/HSST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 11 - Hà Nội, TP. Hà Nội Tuyên án 30/09/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Phùng Đình T phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.

Xử phạt: Phùng Đình T 30 (Ba mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 28/8/2025. Được trừ thời hạn tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/6/2022 đến ngày 19/12/2022. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Gây rối trật tự công cộng - phạm tội gây rối trật tự công cộng (điều 318 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phùng Đình T phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 318 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 11 - HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 106/2025/HSST
Ngày 30/9/2025.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 – HÀ NỘI

Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Duy Trí

- Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đăng Bôi và bà Đỗ Thị Kim Vân;

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thanh Thủy – Thư ký Toà án;

- Đại diện VKSND khu vực 11 – Hà Nội tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Duy Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 30/9/2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 11 - Hà Nội xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 89/2025/HSST ngày 19/9/2025; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 89/2025/HSST ngày 19/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 11 - Hà Nội, đối với bị cáo:

Họ và tên: Phùng Đình T, sinh năm: 1981, tại Hà Nội; tên gọi khác: Không; giới tính: Nam; nơi ĐKNKTT và nơi cư trú: Tổ 11 B TK , phường HL , thành phố Hà Nội; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 07/12; con ông: Phùng Đình T1 và con bà: Nguyễn Thị T2; có vợ là: Dương Thị Ngọc H và có 02 con (con lớn sinh năm 2014, con nhỏ sinh năm 2017).

Tiền án, tiền sự:

- Ngày 21/02/2005, Tòa án phúc thẩm tại Hà Nội - Tòa án nhân dân Tối cao xử phạt 07 năm tù về tội Hiếp dâm, thời hạn tù kể từ ngày 30/10/2003. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 17/01/2009. (đã được xóa án).

- Ngày 11/8/2014, Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì xử phạt 08 tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng. (đã được xóa án),

- Năm 2013 và năm 2019 bị xử phạt hành chính về hành vi gây rối trật tự công cộng (đã hết thời hạn coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính).

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam từ ngày 23/6/2022 đến ngày 19/12/2022 được hủy bỏ biện pháp ngăn chặn tạm giam.

Ngày 05/5/2023, bị cáo thi hành biện pháp bắt buộc chữa bệnh, đến ngày 28/8/2025 được đình chỉ thi hành biện pháp bắt buộc chữa bệnh.

Kể từ ngày 28/8/2025, bị cáo bị áp dụng biện biện pháp ngăn chặn tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an thành phố Hà Nội. (Xin xét xử vắng mặt).

- Người bào chữa (Chỉ định) cho bị cáo Phùng Đình T là Luật sư Đinh Thị N – Công ty Luật TNHH M – Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội. (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên Toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Năm 2018, Hoàng Hải H1 vay của Nguyễn T.A (Sinh năm: 1979; HKTT: Khu tập thể Đ, xã V , huyện Thanh Trì, Hà Nội) số tiền 340.000.000 đồng để làm ăn kinh doanh. Sau đó, do H1 không trả tiền theo đúng hẹn nên T.A nhiều lần gọi điện, nhắn tin đòi thì H1 nói do ảnh hưởng bởi dịch bệnh Covid nên chưa có tiền, xin khất nợ T.A. Khoảng 20 giờ ngày 21/4/2021, T.A gọi điện bảo H1 đến quán nước ở vỉa hè trước cửa chung cư TG, đường QL, xã TH, huyện Thanh Trì, Hà Nội để nói chuyện. Đến 22 giờ 30' cùng ngày, T.A đến quán nước trên đợi H1 thì gặp bạn là anh Bùi Huy T3 (Sinh năm: 1984; HKTT: Tập thể Z179, xã TH, huyện Thanh Trì, Hà Nội) nên rủ anh T3 ngồi uống nước cùng. Sau một lúc, thấy bạn là Phùng Đình T đi qua nên T.A tiếp tục rủ T vào ngồi uống nước cùng.

Trước khi đến nơi hẹn, nghĩ T.A sẽ gọi đông người, sợ bị đánh nên H1 lấy 01 con dao (loại dao gọt hoa quả, dài khoảng 15 cm, chuôi bằng nhựa màu vàng, lưỡi dao bằng kim loại nhọn đầu) cất vào túi quần sau bên phải. Khoảng 23 giờ cùng ngày, H1 đến quán nước ở vỉa hè đường QL ngồi cùng bàn với T.A, T và anh T3. Khi T.A yêu cầu trả nợ, H1 nói do tình hình dịch Covid nên chưa thể thu xếp và xin khất nợ. Thấy, T.A và H1 xảy ra mâu thuẫn to tiếng, chửi nhau, T liền cầm ghế nhựa đang ngồi đánh về phía H1. T.A vừa chửi vừa cầm ghế nhựa đánh về phía H1 và ném bàn uống nước vào người H1 làm H1 bị ngã ngồi xuống đất. T.A và T vừa chửi, vừa lấy cốc thủy tinh ở bàn gần đó ném về phía H1. Thấy có xô xát, anh T3 lùi lại đứng ở phía sau để tránh. Sau khi bị ngã ngồi xuống đất và bị ném bàn, cốc chén vào người, H1 vùng dậy, tay phải rút con dao ở trong túi quần sau bên phải khua theo chiều từ phải sang trái về phía T.A và T thì mũi dao đâm trúng vào vùng mạn sườn (hố chậu) trái của T.A. Sau đó, H1 cầm dao bỏ chạy về hướng Công an huyện Thanh Trì, trên đường bỏ chạy, H1 vứt dao trên đường (hung khí hiện không thu hồi được). Thấy H1 bỏ chạy, T.A và T chửi bới, hò hét và đuổi theo H1 gây náo loạn, mất an ninh trật tự trên đường QL, thuộc xã TH, huyện Thanh Trì, Hà Nội. T.A chạy đuổi theo H1 khoảng 10 mét thì thấy đau ở mạn sườn trái, chảy máu nên dừng lại bảo với anh T3 là bị H1 đâm gây thương tích nên anh T3 đứng lại đỡ T.A còn T tiếp tục nhặt 01 cán chổi ven đường đuổi theo H1 khoảng 20 đến 25 mét nữa nhưng không kịp nên quay lại. Sau đó, T và anh T3 đưa T.A đi cấp cứu tại bệnh viện đa khoa N. Đến ngày 22/4/2021, H1 đến bệnh viện đa khoa T4 để khám chữa.

Nhận tin báo, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Thanh Trì đã tiến hành khám nghiệm hiện trường và rà soát con dao là hung khí của vụ án nhưng không thu hồi được.

Thương tích của Nguyễn T.A được xác định như sau:

- Tại tóm tắt bệnh án ngày 25/5/2021 của Bệnh viện đa khoa N thể hiện: "Vào viện ngày 21/4/2021, trong tình trạng: vết thương vùng mạn sườn trái kích thước khoảng 06cm bờ mép gọn sạch ít dị vật đất cát, có tổ chức mạc nối thoát vị ra khỏi vết thương, chảy máu đỏ tươi tại vị trí vết thương. Siêu âm ổ bụng: Hình ảnh gan to, nhiễm mỡ độ III; Dịch máu ổ bụng. Chụp CLVT tầng dưới ổ bụng (tiểu khung): Hình ảnh vết thương xuyên thấu thành bụng bên trái gây chấn thương thận trái độ II, thoát vị mạc cuối, nghi ngờ tổn thương thành đại tràng xuống kèm theo. Tụ dịch máu k H1g quanh thận, k H1g cạnh thận trước và sau, dọc theo rãnh đại tràng xuống tới tiểu khung. Có hình ảnh tổn thương mạch máu mạc treo và mạch nhu mô thận trái. Vài bóng khi nhỏ cạnh đại tràng xuống và k H1g cạnh thận sau trái."

- Tại sổ khám bệnh của Hoàng Hải H1 tại bệnh viện đa khoa T4 thể hiện: "Khám ngày 22/4/2021. Kết quả khám: tỉnh, tiếp xúc được; ấn đau vùng thái dương đỉnh (P), buồn nôn, nôn khan, hoa mắt, chóng mặt; ấn đau vùng cổ tay (T), hạn chế vận động cổ tay (T); mạch quay bắt được; sưng nề cổ tay (T); ấn đau vùng thượng vị, chưa thấy bầm tím, sưng nề; trợt da nhẹ vùng mu tay (T), gối (P) hiện tại đã cầm máu. XQ Sọ não, cổ tay trái: Không thấy tổn thương xương."

Quá trình giải quyết vụ án, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Thanh Trì đã ra các Quyết định trưng cầu giám định thương tích đối với Nguyễn T.A và Hoàng Hải H1 nhưng T.A và H1 từ chối đi giám định thương tích, không chấp hành việc dẫn giải đi giám định thương tích của Cơ quan Điều tra.

Tại Cơ quan Điều tra, Phùng Đình T khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên: Khoảng 23 giờ ngày 21/4/2022, T đi đến khu vực các quán nước vỉa hè đường QL, xã TH, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội thì thấy anh Bùi Huy T3 gọi T vào uống nước. T vừa vào ngồi cùng bàn với T.A và anh T3 thì H1 đi đến. T.A và H1 nói chuyện gì đó, rồi mâu thuẫn cãi chửi nhau. Tiếp đó H1 rút dao khua về phía T thì T dùng ghế nhựa đỡ và đánh về phía H1 nhưng H1 né được nên không trúng. Khi H1 chạy về phía T.A dùng dao đâm T.A thì T cầm ghế nhựa lao vào đánh H1 nên H1 bỏ chạy. T và T.A cầm ghế nhựa đuổi theo H1 nhưng không kịp. Thấy T.A bị thương tích nên T và Thành đưa T.A đi cấp cứu. Trong suốt quá trình này thì anh T3 không tham gia đuổi đánh H1.

Nguyễn T.A, Hoàng Hải H1 và anh Bùi Huy T3 khai nội dung vụ việc như đã nêu trên.

Quá trình giải quyết vụ việc, Hoàng Hải H1 và gia đình đã bồi thường cho Nguyễn T.A số tiền 200.000.000 đồng. T.A nhận tiền bồi thường và không yêu cầu về dân sự.

Do hành vi của Nguyễn T.A, Phùng Đình T dùng hung khí ghế nhựa đánh, dùng bàn nhựa, cốc thủy tinh đánh ném về phía H1 và việc H1 dùng dao đâm trúng vào người T.A, sau đó, T.A và T tiếp tục dùng hung khí truy đuổi H1 trên đường QL, thuộc xã TH, huyện Thanh Trì, Hà Nội đã gây mất trật tự công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự trên địa bàn, gây H1g mang lo sợ cho quần chúng nhân dân trên địa bàn xã TH. Ngày 21/11/2021, Ủy ban nhân dân xã TH có văn bản số 170/CV-UBND đề nghị các xử lý nghiêm các đối tượng đã thực hiện hành vi gây rối trật tự công cộng và các hành vi vi phạm, tội phạm khác theo quy định pháp luật.

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ thu thập được, ngày 06/6/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Thanh Trì đã ra Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can, áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam đối với Nguyễn T.A, Phùng Đình T và Hoàng Hải H1 về tội Gây rối trật tự công cộng, quy định tại khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự.

Quá trình bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam, ngày 05/7/2022, Nguyễn T.A bị bệnh, được đưa đi bệnh viện cứu chữa nhưng sau đó tử vong. Kết quả giám định pháp y kết luận nguyên nhân tử vong của Nguyễn T.A: "Phù não hậu quả của xuất huyết dưới nhện toàn bộ não trên bệnh nhân xơ gan, viêm gan thận mạn tính".

Ngày 15/8/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Thanh Trì đã ra Quyết định trưng cầu giám định thương tích đối với hậu quả vết dao đâm do Hoàng Hải H1 gây ra cho Nguyễn T.A. Tại bản Kết luận giám định pháp y trên hồ sơ số 37/22/GĐPY-HS ngày 19/8/2022 của Viện pháp y Quốc gia - Bộ y tế kết luận:

"1. Dấu hiệu chính qua giám định trên hồ sơ: Sẹo mổ đường trắng trên dưới rốn kích thước lớn. Sẹo vết thương vùng hố chậu trái kích thước nhỏ. Sẹo mổ thông hồi tràng hố chậu phải kích thước lớn. Vết thương thận trái khâu điều trị bảo tồn. Thủng 02 lỗ đại tràng phải cắt đoạn đại tràng làm hậu môn nhân tạo. Mở thông hồi tràng không có quy định tỷ lệ % tổn thương cơ thể trong thông tư 22/2019/TT-BYT nên không xếp tỷ lệ.

2. Kết luận:

- Căn cứ Bảng tỷ lệ tổn thương cơ thể ban hành kèm theo Thông tư 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y tế, tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên cho nạn nhân là 58%. Theo nguyên tắc cộng tại Thông tư.

- Cơ chế: Vết thương thấu bụng vùng hố chậu trái do vật sắc nhọn tác động trực tiếp theo cơ chế đâm gây ra".

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ thu thập được, Cơ quan CSĐT - Công an huyện Thanh Trì đã ra Quyết định bổ sung Quyết định khởi tố vụ án hình sự số 08 ngày 27/9/2022 về tội Cố ý gây thương tích, quy định tại Điều 134 Bộ luật Hình sự; Quyết định thay đổi Quyết định khởi tố bị can số 10 ngày 27/9/2022 của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Thanh Trì đối với Hoàng Hải H1 về tội Cố ý gây thương tích, quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Quá trình điều tra, Phùng Đình T có biểu hiện bệnh lý tâm thần. Gia đình T cho biết T có tiền sử bệnh tâm thần, trước khi bị bắt giữ đã điều trị tại bệnh viện tâm thần Trung ương. Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Thanh Trì đã thu thập hồ sơ bệnh án tâm thần của T tại bệnh viện tâm thần Trung ương sau đó, ngày 02/11/2022 ra Quyết định trưng cầu giám định pháp y tâm thần đối với Phùng Đình T. Ngày 08/12/2022, Viện pháp y tâm thần Trung ương đã tiếp nhận Phùng Đình T để tiến hành giám định pháp y tâm thần. Hết thời hạn điều tra vụ án, do chưa có kết luận giám định pháp y tâm thần đối với T nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Thanh Trì đã ra Quyết định tách vụ án hình sự, Quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự đối với bị can, Quyết định tạm đình chỉ điều tra bị can đối với Phùng Đình T để khi có kết luận giám định pháp y tâm thần sẽ phục hồi điều tra vụ án, phục hồi điều tra bị can để giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Ngày 08/3/2023, Cơ quan CSĐT - Công an huyện Thanh Trì đã nhận được kết luận giám định pháp y tâm thần của bị can Phùng Đình T.

Tại bản kết luận giám định pháp y tâm thần theo trưng cầu số 35/KLGĐ ngày 17/01/2023 của Viện pháp y tâm thần Trung ương kết luận:

"Trước, trong khi thực hiện hành vi phạm tội và tại thời điểm giám định bị can Phùng Đình T bị bệnh rối loạn loại phân liệt. Theo phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 năm 1992 bệnh có mã F21.

Trước, trong khi thực hiện hành vi phạm tội bệnh ở giai đoạn ổn định, bị can đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.

Tại thời điểm giám định bệnh ở giai đoạn cấp tính, bị can mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.

Căn cứ Điều 5 Nghị định 64/2011/NĐ-CP ngày 28/7/2011 của Chính phủ quy định về việc thi hành Biện pháp bắt buộc chữa bệnh và Điều 49 Bộ luật Hình sự năm 2015 về "Bắt buộc chữa bệnh": Bị can Phùng Đình T thuộc diện cần áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh".

Ngày 14/3/2023, Cơ quan CSĐT - Công an huyện Thanh Trì chuyển toàn bộ hồ sơ đến Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì kèm theo văn bản đề nghị áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh đối với bị can Phùng Đình T số 01 ngày 08/3/2023.

Ngày 17/3/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì ra Quyết định bắt buộc chữa bệnh đối với Phùng Đình T.

Ngày 05/5/2023, Cơ quan điều tra đã bàn giao người bị bắt buộc chữa bệnh Phùng Đình T cho Viện pháp y tâm thần Trung Ương.

Ngày 08/5/2023, Cơ quan điều tra ra Quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án đối với bị can và Quyết định tạm đình chỉ điều tra đối với bị can Phùng Đình T.

Ngày 17/7/2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 nhận được Công văn số 1128 ngày 16/7/2025 của Viện pháp y tâm thần TW - Bộ y tế với nội dung: "Ngày 15/7/2025, Viện đã tiến hành hội chẩn đánh giá tình trạng sức khỏe tâm thần của bệnh nhân Phùng Đình T với kết luận: Hiện tại bệnh tân thần của Phùng Đình T ở giai đoạn ổn định, không cần áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh.

Cơ quan điều tra đã ra Quyết định trưng cầu giám định sức khỏe tâm thần sau điều trị bắt buộc chữa bệnh đối với Phùng Đình T.

Tại bản kết luận giám định số 47/KLGĐSKTT-SBBCB ngày 04/8/2025 của Viện pháp y tâm thần Trung ương - Bộ y tế kết luận: "Hiện tại (tại thời điểm giám định) bệnh rối loạn loại phân liệt (F21) của Phùng Đình T ở giai đoạn ổn định (khỏi bệnh theo nghị định 64/2011/NĐCP). Hiện tại Phùng Đình T đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, không cần áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh."

Tại Cơ quan điều tra, Phùng Đình T thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Tại bản cáo trạng số: 76/CT-VKS KV 11 ngày 19/9/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 – Hà Nội đã truy tố Phùng Đình T về tội Gây rối trật tự công cộng. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát luận tội giữ nguyên quan điểm về tội danh và Điều khoản đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 và Điều 49 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt Phùng Đình T: Từ 36 đến 40 tháng tù tính từ ngày bắt tạm giam 28/8/2025. Được trừ thời gian đã tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/6/2022 đến ngày 19/12/2022 và thời gian bắt buộc chữa bệnh từ ngày 05/5/2023 đến ngày 28/8/2025.

Về án phí: Áp dụng nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Luật sư bào chữa cho bị cáo tranh luận: Nhất trí với tội danh và điều khoản đã truy tố đối với bị cáo như bản Cáo trạng đã truy tố và nhất trí với luận tội của Kiểm sát viên duy trì công tố tại phiên tòa đã đề nghị về các điều khoản, mức hình phạt và khấu trừ thời gian bị cáo đã tạm giữ, tạm giam cũng như thời gian bắt buộc chữa bệnh đối với bị cáo. Tuy nhiên, Luật sư cho rằng cần áp dụng thêm điểm q khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự “Người phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điểu khiển hành vi của mình” (Có bản luận cứ kèm theo).

Đại diện Viện kiểm sát đối đáp và cho rằng trước khi khôi phục điều tra và truy tố thì Viện pháp y tâm thần TW đã tiến hành hội chẩn đánh giá tình trạng sức khỏe tâm thần của bệnh nhân Phùng Đình T với kết luận: Hiện tại bệnh tâm thần của Phùng Đình T ở giai đoạn ổn định, không cần áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh. Do vậy, Viện kiểm sát bảo lưu quan điểm không đề nghị áp dụng điểm q khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo mà tình tiết trên được đề nghị áp dụng trong khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về tố tụng: Về hành vi tố tụng, Quyết định của Cơ quan CSĐT Công an thành phố Hà Nội, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 – Hà Nội và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. (Nhất là trình tự thủ tục chỉ định người bào chữa cho bị cáo). Quá trình điều tra bị cáo và luật sư bào chữa cho bị cáo không có ý kiến và khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật.

Về hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo xin xét xử vắng mặt và giữ nguyên quan điểm như quá trình điều tra, truy tố bị cáo đã thành khẩn khai nhận. Xét lời khai nhận tội của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của những người liên quan, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở để khẳng định:

Khoảng 23 giờ ngày 21/4/2021, tại vỉa hè đường QL, thuộc xã TH, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội, do mâu thuẫn từ việc vay nợ, Nguyễn T.A và Phùng Đình T dùng bàn ghế nhựa, chai thủy tinh và dùng chân tay đánh Hoàng Hải H1 ngã ngồi xuống đất. Sau đó H1 vùng dậy, dùng tay phải rút con dao mang theo từ trước khua ngang theo chiều từ phải sang trái, trúng 01 nhát vào vùng mạn sườn trái của T.A, rồi bỏ chạy. Thấy H1 bỏ chạy, T.A và T chửi bới, hò hét và đuổi theo H1 gây náo loạn, mất an ninh trật tự trên đường QL, thuộc xã TH, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội. T.A chạy đuổi theo H1 khoảng 10 mét thì thấy đau ở mạn sườn trái, chảy máu nên dừng lại, còn T tiếp tục nhặt 01 cán chổi ven đường đuổi theo H1 khoảng 20 đến 25 mét nữa nhưng không kịp nên quay lại đưa T.A đi cấp cứu tại bệnh viện đa khoa N.

Hành vi của Phùng Đình T như trên đã gây mất trật tự công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự trên địa bàn, gây H1g mang lo sợ cho quần chúng nhân dân trên địa bàn xã TH. Ngày 21/11/2021, Ủy ban nhân dân xã TH có văn bản số 170/CV-UBND đề nghị các xử lý nghiêm các đối tượng đã thực hiện hành vi gây rối trật tự công cộng và các hành vi vi phạm, tội phạm khác theo quy định pháp luật.

Bản cáo trạng số: 76/CT-VKS KV 11 ngày 19/9/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 – Hà Nội đã truy tố Phùng Đình T về tội Gây rối trật tự công cộng. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Xét bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm hại đến các qui định về trật tự công cộng được Pháp luật bảo hộ, đã gây náo động trật tự công cộng, xâm phạm đến an toàn công cộng, đến các sinh hoạt, đi lại nơi công cộng gây hậu quả nghiêm trọng, nên việc xử lý bị cáo bằng biện pháp hình sự là cần thiết và đúng qui định của pháp luật. Ngoài ra, hành vi của bị cáo còn tác động xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa bàn, thể hiện ý thức xem thường pháp luật. Về nhân thân: Từ năm 2005 đến năm 2014 bị cáo có 02 tiền án (về tội Hiếp dâm và Gây rối trật tự công cộng) đều đã được xóa án; từ năm 2013 đến năm 2019 bị cáo có 02 hành vi (Gây rối trật tự công cộng) bị xử phạt hành chính, đều hết thời hạn, cho thấy bị cáo là người có nhân thân xấu. Nên cần áp dụng Điều 38 Bộ luật hình sự (tù có thời hạn) áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện, nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt, biết tôn trọng pháp luật và cũng nhằm mục đích răn đe giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm chung cho xã hội.

Khi lượng hình Hội đồng xét xử cũng xem xét đến tình tiết trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải; gia đình có công với cách mạng (ông Phùng Đình T1 bố đẻ bị cáo tham gia kháng chiến chống Mỹ được tặng thưởng huân, huy chương) có xác nhận của chính quyền địa phương theo điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 – Hà Nội và Luật sư bào chữa cho bị cáo về việc đề nghị áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo Phùng Đình T nhưng ngoài bị cáo được trừ thời gian đã tạm giam, tạm giữ ra, bị cáo còn được trừ thời gian bắt buộc chữa bệnh từ ngày 05/5/2023 đến ngày 28/8/2025 (01 ngày bắt buộc chữa bệnh được tính bằng một ngày đã tạm giam).

Hội đồng xét xử xét thấy: Theo quy định tại khoản 3 Điều 49 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định: “3. Đối với người đang chấp hành hình phạt tù mà bị bệnh tới mức mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì căn cứ vào kết luận giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, Tòa án có thể quyết định đưa họ vào một cơ sở điều trị chuyên khoa để bắt buộc chữa bệnh. Sau khi khỏi bệnh, nếu không có lý do khác để miễn chấp hành hình phạt, thì người đó phải tiếp tục chấp hành hình phạt. Thời gian bắt buộc chữa bệnh được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù”.

Theo quy định nêu trên thì thời gian bắt buộc chữa bệnh được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù chỉ được áp dụng đối với người đang chấp hành hình phạt tù. Như vậy, tại thời điểm xét xử, bị cáo Phùng Đình T không phải là người đang chấp hành hình phạt tù. Do vậy, việc khấu trừ nêu trên dẫn đến người bị xử phạt tù không phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã có hiệu lực pháp luật, là không có căn cứ pháp luật và không được Tòa chấp nhận.

Trong vụ án này còn có các tình tiết như:

Về việc vay nợ giữa Hoàng Hải H1 và Nguyễn T.A: H1 khai vay tiền của T.A với lãi suất cao, T.A khai chỉ cho H1 vay tiền không lấy lãi suất. Việc vay nợ tiền giữa H1 và T.A không có giấy tờ vay nợ, không có người chứng kiến và không có tài liệu chứng minh việc T.A cho H1 vay tiền với lãi suất cao. Ngày 05/7/2022, T.A đã tử vong nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý.

Đối với Nguyễn T.A đã tử vong trong quá trình điều tra nên ngày 19/9/2022, Cơ quan CSĐT - Công an huyện Thanh Trì đã ra Quyết định đình chỉ điều tra vụ án đối với bị can, Quyết định đình chỉ điều tra bị can đối với Nguyễn T.A.

Đối với Hoàng Hải H1, ngày 21/02/2023, Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì đã xét xử và tuyên phạt Hoàng Hải H1 03 năm tù về tội Cố ý gây thương tích quy định tại khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự (Bản án đã có hiệu lực pháp luật).

Đối với anh Bùi Huy T3, khi xảy ra xô xát, anh T3 không có lời nói và hành động giúp sức cho Nguyễn T.A và Phùng Đình T nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Thanh Trì không có căn cứ xử lý.

Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Bởi các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1.Tuyên bố bị cáo Phùng Đình T phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Phùng Đình T 30 (Ba mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 28/8/2025. Được trừ thời hạn tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/6/2022 đến ngày 19/12/2022.

2. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Toà án.

Buộc bị cáo Phùng Đình T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

3. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Bị cáo (xin xét xử vắng mặt) có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ