- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Tấn T1 - Giết người VP - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Tấn T1 và Hoàng Công T2.
- Căn cứ chính? Điều 123 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự
| TÒA PHÚC THẨM TAND TỐI CAO TẠI HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 106/2025/HS-PT Ngày: 12/8/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Cường;
Các Thẩm phán: Ông Điều Văn Hằng;
Ông Hồ Sỹ Hưng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bích Ngọc, Thẩm tra viên Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội.
- Đại diện Viện Công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Lê Hồng Phong, Kiểm sát viên cao cấp.
Ngày 12 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ cơ sở 2, Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 552/2025/TLPT-HS ngày 24 tháng 4 năm 2025 đối với bị cáo Nguyễn Tấn T1 và Hoàng Công T2 do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 21/2025/HS-ST ngày 13 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân tỉnh VP (nay là Tòa án nhân dân tỉnh PT).
* Bị cáo có kháng cáo:
1. Nguyễn Tấn T1, sinh năm 1999; nơi cư trú: Thôn PD, xã VT, tỉnh PT (trước đây là: Thôn PD, xã BD, huyện VT, tỉnh VP); nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Như K1 và bà Nguyễn Thị M1 (đều đã chết); vợ, con: Chưa có; tiền án: Không.
- Tiền sự: Ngày 11/4/2023, Công an thành phố VY ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Tấn T1 về hành vi Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Hình thức phạt tiền, mức phạt 6.500.000đ. Đến nay Tấn T1 chưa nộp số tiền phạt này.
- Nhân thân: Tại Bản án số 50/2020/HSST ngày 28/9/2020 của Toà án nhân dân huyện YL, tỉnh VP xử phạt Nguyễn Tấn T1 01 năm tù về tội Trộm cắp tài sản, ngoài ra Tấn T1 còn phải chịu 200.000đ tiền án phí HSST và 300.000đ tiền án phí dân sự trong vụ án hình sự. Ngày 08/8/2021, Tấn T1 chấp hành xong hình phạt tù; ngày 17/12/2020, Tấn T1 chấp hành xong khoản 200.000đ tiền án phí HSST và 300.000đ tiền án phí dân sự trong vụ án hình sự.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 04/10/2023, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 Công an tỉnh PT; có mặt.
2. Hoàng Công T2, sinh năm 1998; nơi cư trú: Thôn BY, xã TD, tỉnh PT (trước đây là: Thôn BY, xã HĐ, huyện TD, tỉnh VP); nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn S1 và bà Phùng Thị S2; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 12/10/2023 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 Công an tỉnh PT; có mặt.
* Người bào chữa do Tòa án chỉ định cho các bị cáo: Luật sư Nguyễn Thị Kim Q1 - Luật sư thuộc Đoàn Luật sư tỉnh PT; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, bản án sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 02 giờ sáng ngày 03/10/2023, sau khi hết giờ làm ca đêm tại quán bar CL, địa chỉ tại Khu đô thị CHT, phường LB, thành phố VY, tỉnh VP, Nguyễn Tấn T1, sinh năm 1999; trú tại thôn PD, xã BD, huyện VT cùng với Đinh Văn V1, sinh năm 2001, trú tại thôn Đ, xã DP, huyện TD; Hoàng Công T2, sinh năm 1998, trú tại thôn BY, xã HĐ, huyện TD; Trần Văn H1, sinh năm 1999, trú tại thôn ĐG, xã NK, huyện YS, tỉnh TQ; Đinh Trung T3, sinh năm 2002, trú tại thôn VDH xã TV, huyện TD; Nguyễn Thị Hoa P1, sinh năm 2003, trú tại TDP VTĐ, phường KQ, thành phố VY; Nguyễn Chí L1, sinh năm 2001, trú tại thôn XQ, xã VQ, huyện LT; Nguyễn Ngọc Việt A1, sinh năm 1995, trú tại TDP AS, phường ĐĐ, thành phố VY (đều là nhân viên của quán bar CL) và Trần Huy P2, sinh năm 2004, trú tại TDP TQT, phường NQ, thành phố VY, cùng nhau đi ăn đêm, uống rượu tại quán ăn đêm của chị Nguyễn Thị H2, sinh năm 1982, trú tại phường KQ, thành phố VY ở vỉa hè đường ML gần khu vực vòng xuyến giao nhau với đường NTT thuộc TDP VTĐ, phường KQ, thành phố VY.
Lúc này, tại quán của chị H2 đang có chị Nguyễn Thị Hà T4, sinh năm 2007 trú tại xã KX, huyện VT cũng là nhân viên quán bar CL, hiện đang ở trọ tại ngõ 6, đường NTT, phường KQ, thành phố VY và chị Nguyễn Khánh L2, sinh năm 2007, trú tại TDP TG1, phường KQ, thành phố VY đang ngồi ở 01 bàn của quán để ăn đêm, uống rượu.
Bên cạnh quán của chị H2 là quán của chị Hoàng Thị T5, sinh năm 1979, trú tại phường KQ, thành phố VY đang có Nguyễn Thanh T6, sinh năm 2003, trú tại thôn TN, xã PK, huyện SL, tỉnh VP, Nịnh Văn K2, sinh năm 2001, trú tại thôn TT2, xã TL, huyện HY, tỉnh TQ và Trần Văn Đ1, sinh năm 1994, trú tại TDP CH, thị trấn HS, huyện LT, cũng đang ngồi ăn đêm, uống rượu tại một bàn trong quán của chị T5. Trước khi đi ăn đêm, Nguyễn Tấn T1 mang theo sẵn 01 con dao, dạng dao gấp, có một đầu nhọn, lưỡi dao dài khoảng 15cm, cán làm bằng sắt, để trong túi da đeo chéo màu đen, dạng túi đeo ngang hông (con dao này, Tấn T1 mua của một người bán hàng rong từ khoảng tháng 3/2022 và thường xuyên mang theo trong người để phòng thân). Ngồi ăn, uống đến khoảng 03 giờ 00’ cùng ngày thì Tấn T1, V1 và P1 đi sang bàn của chị T4 và chị L2 uống rượu, giao lưu, còn L1 và Việt A1 xin phép về trước.
Thấy Tấn T1, V1 sang mời rượu, nói chuyện với chị T4 và chị L2 thì T6 nghĩ rằng nhóm của Tấn T1 đang muốn lợi dụng việc chị T4 say rượu để làm những việc không đàng hoàng nên T6, K2 có nói với nhóm của Tấn T1 là: “Thôi, tha cho con gái nhà người ta", nghe thấy T6 nói vậy, Tấn T1 không nói gì. Sau đó, do chị T4 đã mệt và say rượu nên chị L2 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave chở chị T4 ngồi giữa, V1 ngồi sau giữ chị T4 còn Tấn T1 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Exciter của T1, cả nhóm đưa chị T4 về phòng trọ tại ngõ 6, đường Nguyễn Tất T1; còn Công T2, P1, P2, Trung T3 và H1 vẫn ngồi ăn đêm, uống rượu tại quán ăn của chị H2. Do nghĩ rằng nhóm Tấn T1 sẽ làm những việc sai trái với chị T4, nên T6 đã điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave chở K2 đi theo sau nhóm Tấn T1, đến vị trí cổng phòng trọ của chị T4, còn Đ1 vẫn ngồi lại một mình ở quán ăn của chị T5.
Khi T6, K2 đi theo đến trước cửa phòng trọ của chị T4 và thấy V1, Tấn T1 đang dìu chị T4 đi vào phòng trọ thì K2 xuống xe, dùng tay tát Tấn T1, V1 mỗi người 01 cái vào vùng đầu, mặt còn T6 chạy vào quán Internet "N6" của anh Trần Huy T7, sinh năm 1985, trú tại xã TL, huyện LT, tỉnh VP (do Nguyễn Minh T8, sinh năm 1997, trú tại xã VQ, huyện LT quản lý) ở giáp phòng trọ của chị T4. T6 chạy đến khu vực góc phòng trọ, cầm lấy 01 cán chổi, rồi chạy ra vụt V1, Tấn T1 nhiều phát, trúng vào phần lưng, vai và đầu của Tấn T1 và V1 làm cán chổi bị gãy thành hai đoạn. Sau đó, T6 tiếp tục chạy vào khu vực bếp của quán Internet "N6" lấy 01 con dao bằng Inox dài khoảng 30cm, lưỡi dao hình chữ nhật dài khoảng 20cm, bản rộng khoảng 10cm, có một lưỡi sắc rồi chạy ra đuổi theo, vung chém nhiều nhát về phía Tấn T1, V1 nhưng Tấn T1, V1 đều bỏ chạy, tránh né được, nên không ai bị thương tích gì. Thấy vậy, K2, L2 đi đến đã can ngăn nên T6 mang dao vào quán Internet “N6” để vị trí cũ.
Do bị đuổi đánh, nên V1 đã gọi điện thoại, nhắn tin cho Công T2 thông báo việc V1, Tấn T1 bị hai thanh niên đuổi đánh tại cổng phòng trọ của chị T4, đồng thời V1 gửi vị trí qua ứng dụng facebook cho Công T2 để nhóm Công T2 vào đón. Sau đó, Công T2 bảo Trung T3 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave của H1 chở Công T2 ngồi giữa, H1 ngồi sau đi theo vị trí V1 đã gửi để tìm đón Tấn T1, V1. Tuy nhiên, sau khi nhắn tin cho Công T2 thì Tấn T1 đã điều khiển xe mô tô chở V1 đi theo hướng đường khác để quay về quán ăn đêm của chị H2 mà không đợi nhóm Công T2 vào đón nữa. Trên đường đi vào phòng trọ của T4 thì Công T2, H1, Trung T3 gặp T6, K2 đang điều khiển xe mô tô trên đường đi ra. Thấy nhóm Công T2 đi vào thì T6, K2 cũng đi quay lại khu nhà trọ của chị T4 cùng nhóm Công T2. Khi đến trước cửa phòng trọ của chị T4, K2 đi vào quán Internet “N6” lấy 01 đoạn kim loại hình hộp màu đen, dài khoảng 01m, các cạnh có kích thước khoảng 02cm, T6 cũng chạy vào quán Internet "N6" tiếp tục lấy con dao inox lúc trước ra để dọa đánh, chém nhóm Công T2. Nhưng giữa hai bên không xảy ra xô xát, đánh nhau gì, T6 mang dao vào quán Internet "N6" trả lại cho anh T8, còn K2 vẫn cầm theo đoạn gậy kim loại cùng T6 quay trở lại quán ăn đêm của chị T5. Sau khi bị dọa đánh, nhóm Trung T3 cũng lên xe quay về quán ăn đêm.
Ngay sau khi đi về đến quán ăn đêm của chị H2, do bực tức vì bị T6, K2 đánh trước đó và biết việc Trung T3, Công T2, H1 đã đi vào khu vực phòng trọ của chị T4 tìm đón mình, nên Tấn T1 đã vào quán ăn đêm của chị H2 lấy con dao nhọn để trong túi đeo chéo của mình mang theo trước đó đúc vào túi quần sau bên phải đang mặc, rồi điều khiển xe mô tô chở V1 quay lại quán internet để tìm đánh nhóm T6, K2. Khi đi được khoảng 30m, Tấn T1 gặp T6, K2 đang điều khiển xe mô tô đi theo hướng ngược lại ra quán ăn đêm. Nhìn thấy Tấn T1, K2 ngồi sau xe của T6 cầm đoạn gậy kim loại mang theo vụt về phía V1 nhưng V1 nhảy xuống xe tránh được. Sau đó, T6 tiếp tục điều khiển xe mô tô chở K2 đi quay lại quán của chị T5. Thấy vậy, V1 lên xe máy của Tấn T1 rồi đi quay lại đuổi theo nhóm T6 để đánh nhau. Lúc này, Trung T3 chở Công T2, H1 cũng vừa đi đến, cách xe mô tô của T6 và K2 khoảng 50m, quan sát thấy sự việc nên Trung T3 cũng điều khiển xe mô tô đuổi theo T6 và K2 về quán ăn đêm.
Khi nhìn thấy Tấn T1 chở V1 đến trước cửa quán của chị H2, thì K2 lấy 01 vỏ rượu dừa trong quán của chị H2 ném trúng mạn sườn bên phải của Tấn T1, làm xe mô tô do Tấn T1 điều khiển bị đổ ra đường. Bị K2 ném, Tấn T1, V1 nhảy xuống xe, Tấn T1 dùng tay phải rút con dao nhọn đang đúc trong túi quần phía sau bên phải ra bật lưỡi dao ra rồi lao về phía K2, còn V1 rút dây thắt lưng của V1 ra, quấn quanh vào lòng bàn tay rồi lao về phía T6 để đánh nhau.
Thấy Tấn T1, V1 lao vào, T6 chạy vào khu bếp nấu quán ăn đêm của chị T5, lấy 01 con dao, dạng dao phay, dài 35 cm, phần lưỡi làm bằng kim loại dài 23cm, bản rộng nhất 8,5cm, có một lưỡi sắc rồi lao đến phía V1, còn K2 dùng tay phải cầm đoạn kim loại vụt 01 phát theo chiều ngang từ phải sang trái hướng về phía Tấn T1 nhưng Tấn T1 lùi lại tránh được rồi lao đến đâm liên tiếp 02 nhát theo hướng từ phải qua trái, 01 nhát trúng vào vùng mạn sườn bên trái, 01 nhát trúng vào cẳng tay trái của K2. Bị đâm, K2 dùng tay phải cầm đoạn gậy kim loại vụt liên tiếp 02 phát trúng vào vùng mạn sườn bên trái của Tấn T1, rồi cầm đoạn gậy kim loại bỏ chạy qua phía trước quán ăn đêm của chị T5 hướng ra đường ML, khi chạy gần đến lối rẽ vào đường SS, K2 dừng lại, vứt bỏ đoạn kim loại tại ven đường ML rồi dùng hai tay tự cầm máu. Sau đó, K2 tiếp tục chạy vào đường SS đến trước cửa khách sạn NH3 do vết thương quá nặng (bị lòi ruột ra ngoài) nên K2 ngã xuống đường rồi bất tỉnh tại đây.
Về phía T6 và V1: Khi thấy T6 cầm dao chạy về phía mình, V1 quay người bỏ chạy về hướng đường NTT được khoảng 05-10m, thì nhìn thấy Trung T3 điều khiển xe mô tô chở theo Công T2, H1 đi về đến quán ăn đêm. Thấy vậy, V1 lại quay lại chạy theo xe mô tô của Trung T3, mục đích để tiếp tục đánh nhau với T6. Khi thấy nhóm Công T2 quay lại, T6 liền cúi xuống nhặt 01 vỏ rượu dừa ném trúng vào chân của Trung T3. Trung T3 dừng xe mô tô trước cửa quán của chị T5 rồi cùng với Công T2 và H1 nhảy xuống xe, Công T1 chạy vào bên trong quán ăn của chị H2 lấy 01 cái chổi dài khoảng hơn 1m, cán chổi làm bằng tre; H1 chạy đến vị trí biển quảng cáo của quán ăn đêm nhặt 01 tảng đá có kích thước khoảng 10 x 20cm, còn Trung T3 chạy vào bên trong quán ăn đêm cầm lấy 01 vỏ rượu dừa, mục đích để đánh nhau với T6 và K2.
Lúc này, T6 nhìn thấy Tấn T1 tay cầm dao nhọn nên T6 cầm dao lao đến chém 01 nhát theo hướng từ trên xuống dưới, thấy vậy Tấn T1 dơ tay trái nên đỡ thì bị T6 chém trúng vào cẳng tay trái. Bị chém, Tấn T1 cầm dao nhọn đâm, chém liên tiếp nhiều nhát về phía T6 nhưng đều không trúng. Sau khi chém Tấn T1, T6 cầm theo con dao phay bỏ chạy ra trước quán của chị T5 rồi dừng lại ở bên phải quán thì nhìn thấy Tấn T1 cầm theo 01 dao nhọn, V1 cầm dây thắt lưng, Công T2 cầm cán chổi đuổi theo T6 để đánh. H1 cầm tảng đá nêu trên chạy theo sau, nhưng do thấy tảng đá nặng nên H1 dùng hai tay đập tảng đá xuống vỉa hè trước quán ăn của chị T5, làm tảng đá vỡ thành nhiều mảnh nhỏ rồi cúi xuống nhặt 01 hòn đá có kích thước khoảng 05 x 07cm, mục đích để cùng nhóm của mình đuổi đánh T6, tuy nhiên do quan sát thấy Tấn T1, V1, Công T2 đã đuổi đánh T6 cách xa nên H1 ném hòn đá xuống bên cạnh quán ăn của chị T5, rồi tiếp tục chạy theo sau nhóm Tấn T1 theo hướng ra đường ML; Trung T3 cầm vỏ rượu dừa chạy theo phía sau H1 để đuổi đánh T6, K2. Khi đuổi theo được khoảng 03 - 04m thì chị P1 (là bạn gái Trung T3) gọi Trung T3 lại, can ngăn nên Trung T3 dừng lại không chạy theo đuổi đánh nhóm T6, mà đứng lại cùng với P1 tại trước cửa quán ăn đêm của chị H2, ném vỏ rượu dừa tại vỉa hè đường ML. Sau đó Trung T3 chạy theo phía sau nhóm bạn mình. Tấn T1, Công T2 và V1 đuổi theo T6 đến vị trí phía trước cổng công trường đang xây dựng Đài truyền hình tỉnh VP thì T6 quay lại, hô to: "Tao khô máu với chúng mày”, đồng thời T6 cầm dao phay vung chém liên tiếp nhiều nhát về phía Tấn T1, Công T2 và V1, nhưng không trúng ai. Công T2 chạy đến, hai tay cầm đoạn cán chổi tre vụt 01 phát theo chiều thẳng đứng theo hướng từ trên xuống dưới về phía T6 nhưng không trúng, Tấn T1 cũng lao đến dùng dao đâm, chém liên tiếp nhiều nhát về phía T6, vừa đâm vừa hô“Địt mẹ mày”, nhưng không trúng T6, V1 cầm dây lưng lao vào đấm, đá nhiều cái trúng vào gáy và người T6.
Bị Tấn T1, Công T2 và V1 đánh, T6 xoay người tiếp tục bỏ chạy dọc theo vỉa hè đường ML. Tấn T1, V1, Công T2 tiếp tục đuổi theo T6; Công T2 tiếp tục dùng cán chổi vụt liên tiếp 02 phát theo chiều chếch chéo từ trái sang phải và từ phải sang trái hướng về phía T6 nhưng không trúng thì Công T2, Tấn T1 và V1 tiếp tục đuổi theo để đánh T6 dọc theo vỉa hè đường ML. H1 chạy gần đến cổng công trường xây dựng Đài phát thanh truyền hình tỉnh, cách vị trí nhóm Công T2, Tấn T1 và V1 khoảng 10m thì nhìn thấy T6 hô và cầm dao quay lại vung chém về phía nhóm của mình, nên H1 cúi xuống nhặt 01 viên đá lát vỉa hè, kích thước khoảng 04 x 05cm để phòng vệ khi T6 lao vào chém mình. Tuy nhiên, sau khi thấy T6 bị Tấn T1, Công T2, V1 đánh bỏ chạy thì H1 ném bỏ viên đá trên vào chân quây tôn của công trường xây dựng. Cùng lúc đó, Trung T3 cũng đi bộ đến phía sau cách H1 khoảng 10m thì H1 và Trung T3 đi xuống dưới lòng đường ML.
Khi bị Công T2, Tấn T1 và V1 đuổi đánh qua cổng công trường xây dựng Đài phát thanh Truyền hình tỉnh khoảng 05m, T6 tiếp tục quay lại dùng dao chém liên tiếp 03 nhát theo chiều thẳng từ trên xuống dưới hướng về phía Công T2, bị chém Công T2 giơ tay trái lên đỡ thì bị T6 chém trúng vào phần cẳng tay trái. Bị chém, Công T2 ném bỏ cán chổi xuống vỉa hè đường ML rồi nhảy từ trên vỉa hè xuống dưới lòng đường ML, đứng cùng với Trung T3, thấy Công T2 bị thương, chảy nhiều máu, Trung T3 đã kéo tay, can ngăn không cho Công T2 tiếp tục đánh T6. Khi nhìn thấy Công T2 nhảy xuống dưới lòng đường ML, Tấn T1 và V1 tiếp tục đuổi theo T6 vào bên trong bụi rậm trên vỉa hè đường ML, Tấn T1 cầm dao nhọn đâm 01 nhát theo chiều từ sau ra trước, trúng vào vùng lưng của T6, làm T6 gục xuống vỉa hè trong tư thế hai chân quỳ dưới đất, người cúi khom hướng về phía trước, hai tay ôm lấy đầu, lưng quay về phía Tấn T1. Tấn T1 đi đến đứng phía sau lưng T6, tay trái ghì vào vai trái của T6 còn tay phải cầm dao nhọn theo chiều thuận đâm liên tục nhiều nhát theo hướng từ sau ra trước, từ phải qua trái, trúng vào phần đầu, ngực của T6, làm T6 gục xuống, hai tay vẫn ôm đầu. Khi Tấn T1 đâm T6 thì V1 đứng bên phải, phía sau Tấn T1 không lao vào đánh T6 vì sợ Tấn T1 đâm vào mình. Còn H1 khi đó đã chạy đến đầu đường SS đứng, quan sát thấy sự việc.
Lúc này, Công T2 tiếp tục nhặt 01 đoạn gậy kim loại do K2 đã ném bỏ xuống ven đường trước đó rồi chạy vào bên trong bụi rậm, tay phải cầm đoạn kim loại vụt 01 phát hướng về phía đầu của T6, nhưng do T6 vẫn đang dùng hai tay ôm đầu nên chỉ trúng vào tay T6. Sau đó, Công T2 ném bỏ đoạn gậy kim loại vào bên trong bụi rậm rồi cùng Tấn T1, V1, H1 và Trung T3 quay về khu vực quán ăn của chị H2 và chị T5. Sau đó, H1, Trung T3, P1 đưa Công T2, Tấn T1 đến Bệnh viện cấp cứu điều trị. Còn T6 và K2 được mọi người đưa đi cấp cứu, điều trị tại Bệnh viện HN LV, nhưng do vết thương quá nặng nên T6 đã chết trước khi được đưa vào bệnh viện.
Sau khi tiếp nhận nguồn tin, Cơ quan CSĐT Công tỉnh VP đã phối hợp với các cơ quan chức năng tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi và tổ chức điều tra, xác minh theo quy định.
Kết quả khám nghiệm hiện trường:
* Kết quả khám nghiệm hiện trường lúc 08 giờ 30 phút ngày 03/10/2023:
Hiện trường chung: Hiện trường vụ án được xác định tại vỉa hè bên phải tiếp giáp đầu đường NTT, lối ra vòng xuyến giao nhau với đường ML, LTT. Vỉa hè được lát hỗn hợp gồm bê tông, gạch xây, gạch lát có chiều rộng 8,2m; phía Đông Nam tiếp giáp đường NTT; phía Tây Bắc tiếp giáp dự án Đài phát thanh truyền hình tỉnh VP, khu dự án này đang được xây dựng, phía ngoài được dựng vách tôn kín ngăn cách, cổng ra vào nhìn ra hướng Nam; phía Tây Nam tiếp giáp đường ML; phía Đông Bắc đi về khu công nghiệp.
Hiện trường cụ thể: Được xác định trên vỉa hè bên phải tiếp giáp đầu đường NTT lối ra vòng xuyến là vị trí bán hàng quán của gia đình anh Trịnh Xuân T9, sinh năm 1977 trú tại xã AH, huyện TD, tỉnh VP (vợ anh T9 là chị Nguyễn Thị H2) cách cột điện đôi ký hiệu 24 Lô 471 E43 trên vỉa hè bên phải về phía Đông Bắc khoảng 25m, lấy cột điện ký hiệu này làm mốc cố định tiến hành đo đạc, ghi nhận được các dấu vết như sau:
+ Vị trí số 1: Đám chất màu nâu đỏ dạng giọt, bắn tóe nằm trên vỉa hè bên phải tiếp giáp đầu đường NTT lối ra vòng xuyến trên diện 3,6m x 05m, tâm đám vết này cách mép vỉa hè 3,05m và cách mốc cố định 26,5m.
+ Vị trí số 2: Đám chất màu nâu đỏ dạng giọt, bắn tóe trên mặt đường NTT tiếp giáp với vị trí số 1, nằm trên diện 6,5m x 10,25m, tâm đám vết 2 cách mốc cố định 25m.
Tại vị trí đầu và cuối vị trí số 1, số 2 có đỗ 02 xe ô tô, trong đó xe ô tô BKS 98K - 5065 đỗ vuông góc với vỉa hè, đầu xe hướng ra đường NTT, đuôi xe cách vách tôn ngăn của khu dự án Đài Phát thanh truyền hình tỉnh VP 03m; xe ô tô BKS 29B – 063.75 đỗ song song với vách tôn ngăn của khu dự án Đài Phát thanh truyền hình tỉnh VP, đuôi xe cách cổng dự án 10m.
+ Vị trí số 3: Đám chất màu nâu đỏ dạng giọt, bắn tóe nằm rải rác trên mặt đường, vỉa hè của đường NTT và đường ML, đầu vị trí số 3 tiếp giáp với vị trí số 2 có chiều từ đầu đường NTT theo chiều đường vào đường ML, cuối vị trí số 3 giáp với bờ tường gạch cách cổng dự án xây dựng Đài phát thanh truyền hình tỉnh VP là 21m.
+ Vị trí số 4: Đám chất màu nâu đỏ dạng giọt, bắn tóe nằm rải rác trên vỉa hè tiếp giáp đầu đường NTT cách vị trí đỗ xe ô tô 29B - 063.75 là 2,7m.
+ Vị trí số 5: Đám chất màu nâu đỏ dạng giọt, bắn tóe nằm rải rác trên vỉa hè tiếp giáp đầu đường NTT cách vị trí số 4 là 3,1m về hướng Tây Bắc.
Đám chất màu nâu đỏ ở vị trí số 4, số 5 có chiều từ vỉa hè đường NTT, đến cuối vị trí số 5 trùng với vị trí số 4 qua cổng khu dự án Đài phát thanh truyền hình tỉnh VP sang vỉa hè đường ML và trên đất bên ngoài vách tôn khu dự án Đài phát thanh truyền hình tỉnh VP. Tại các vị trí này, đám chất màu nâu đỏ có dạng giọt, bắn tóe và quệt trên vách tôn.
+ Vị trí số 6: Nằm ở cuối các vị trí số 4, 5 giáp với vách tôn ngăn của khu dự án Đài phát thanh truyền hình tỉnh VP và cách vỉa hè đầu đường SS 04m phát hiện 01 con dao có đặc điểm: Là dao phay có tổng chiều dài là 35cm, phần lưỡi được làm bằng kim loại dài 23cm, bản rộng nhất là 8,5cm, có một lưỡi sắc, phần tay cầm được làm bằng gỗ, trên dao có bám dính chất màu nâu đỏ. Xung quanh vị trí phát hiện con dao này phát hiện nhiều chất màu nâu đỏ bám dính trên cành cây và bắn tóe trên vách tôn ngăn của khu dự án.
+ Vị trí số 7: Phát hiện đôi dép xốp màu đen, quai dép màu trắng, trên có in chữ “DEP VIET”, cỡ 41 và 01 vỏ dừa bên ngoài bọc ni lon có in dòng chữ “RƯỢU DỪA AN PHÁT” nằm cách vị trí số 6 là 3,2m về vỉa hè đường ML.
+ Vị trí số 8: Đám chất màu nâu đỏ dạng giọt, bắn tóe nằm rải rác kéo dài từ đường ML vào đường SS qua cổng HOTEL Ngọc Hà 3 đến đường DĐG trước cổng Phân viện điều tra, quy hoạch rừng ĐBB, trong đó tại các vị trí đối diện cổng vào HOTEL NH3, đầu vỉa hè cổng phụ và đối diện cổng phụ phân viện Điều tra, quy hoạch rừng ĐBB đám chất màu nâu đỏ dạng quệt và đọng thành vũng.
Kết thúc quá trình khám nghiệm đã tiến hành thu giữ các đồ vật, tài liệu, vật chứng và tiến hành niêm phong theo quy định, bao gồm:
+ Thu chất màu nâu đỏ tại các vị trí: 1, 2, 3, 4, 5, 6, 8, trên thành vách ngăn khu dự án Đài Phát thanh truyền hình tỉnh VP;
+ Thu 01 con dao tại vị trí số 6;
+ Thu 01 đôi dép và 01 vỏ dừa tại vị trí số 7.
* Về thu giữ, tạm giữ vật chứng:
Quá trình khám nghiệm hiện trường và điều tra vụ án, Cơ quan điều tra đã phát hiện, thu giữ những đồ vật, tài liệu sau:
- 01 con dao dạng dao gấp, chuôi dao dài khoảng 15cm, một mặt màu đen, một mặt xen kẽ các màu xanh đỏ, lưỡi dao bằng kim loại dài khoảng 10cm, bản rộng khoảng 2,5cm, lưỡi dao thon dần về phía trước, mũi dao nhọn do Nguyễn Tấn T1 giao nộp.
- 01 con dao dạng dao phay có chiều dài khoảng 35cm, lưỡi dao làm bằng kim loại dài khoảng 23cm, bản rộng nhất khoảng 8,5cm, có một lưỡi sắc, phần tay cầm được làm bằng gỗ, trên dao có bám dính chất màu nâu đỏ thu giữ khi khám nghiệm hiện trường.
- 01 quần vải màu đen, dạng quần âu ống dài, 01 đôi giày thể thao màu đen, đã qua sử dụng, có bám dính nhiều chất màu nâu đỏ, 01 đôi tất ngắn cổ màu đen và 01 túi giả da đeo chéo màu đen, kích thước khoảng (23x10)cm thu giữ của Tấn T1.
- 01 áo phông cộc tay màu đen bị cắt rách thu giữ khi khám nghiệm tử thi Nguyễn Thanh T6.
- 01 áo cộc tay màu đen, mặt trước có kẻ sọc trắng, đã qua sử dụng thu giữ của Hoàng Công T2; 01 đoạn gậy kim loại sơn vỏ màu đen, dạng ống vuông, dài 1,04m, bề rộng các cạnh 2,5cm, thu giữ ngày 09/10/2023 tại vị trí phát hiện tử thi Nguyễn Thanh T6.
- 01 chổi quét đã qua sử dụng, cán chổi dạng tre, dài khoảng 1,2m, đường kính cán chổi khoảng 0,2cm, phần chổi quét làm bằng nhiều sợi nilon màu xanh, đỏ thu giữ ngày 12/10/2023 tại khu vực hiện trường vụ án; 01 vỏ rượu dừa bên ngoài bọc nilon có ghi nhãn mác Rượu dừa AP thu giữ khi khám nghiệm hiện trường.
- 01 đôi dép đã qua sử dụng, thu tại vị trí số 7 khi khám nghiệm hiện trường; 01 quần đùi màu đen, 01 quần sịp màu đen, xám thu giữ của Hoàng Công T2; 01 chổi quét, dạng chổi chít, cán chổi bị gãy lìa thành hai đoạn; 01 con dao, dạng dao tông, dài khoảng 25cm, cán làm bằng gỗ, chuôi dao dài khoảng 20cm, bản rộng khoảng 05cm (thu giữ tại quán game N6) do anh Trần Huy T7 (là chủ quán) giao nộp.
* Kết quả khám nghiệm tử thi Nguyễn Thanh T6:
- Khám bên ngoài: Vùng đầu, mặt, cổ: Vùng đầu có tóc cắt ngắn; vùng đỉnh - thái dương bên phải vị trí cách đỉnh vành tai phải 8,5cm cách đường chân tóc trán 07cm có vết rách da kích thước (4,5x0,4)cm, hai đầu vết rách nhọn, bờ mép gọn (vết số 01). Cách vết (01) 1,5cm về phía chẩm có vết rách kích thước (6,5x0,5)cm, hai đầu nhọn bờ mép gọn (vết số 02). Cách vết (02) 02cm, cách chân tóc gáy 11cm có 01 vết rách kích thước (03x0,4)cm, hai đầu nhọn, bờ mép gọn (vết số 03). Cách vết (03) 0,4cm, cách chân tóc gáy 10,5cm có vết rách kích thước (4,7x0,4)cm, hai đầu nhọn, bờ mép gọn (vết số 04). Cách vết số (04) 03cm, cách chân tóc gáy 06cm có vết rách kích thước (4,5x0,4)cm, hai đầu nhọn, bờ mép gọn (vết số 05). Cách vết số (05) 05cm, cách chân tóc gáy 1,5cm có vết rách kích thước (2,4x0,2)cm, hai đầu nhọn, bờ mép gọn (vết số 06). Cách đỉnh vành tai phải 5,5cm, cách chân tóc gáy 3,5cm có 01 vết rách da cơ, đầu dưới tù, đầu trên nhọn, hướng từ phải sang trái, từ trên xuống dưới, kích thước (2,2x0,6)cm (vết số 07). Hai mắt nhắm, nhãn cầu không vỡ. Tai, mũi, miệng không có máu chảy ra. Xương hàm mặt, xương cổ sờ nắn không phát hiện gãy. Vùng ngực, bụng, lưng: Vùng ngực bên phải: Vị trí cách hõm ức 07cm, cách bờ vai phải 09cm có 01 vết rách da cơ kích thước (4,2x1,5)cm, kiểm tra vết rách có đầu phía trên tù, đầu phía dưới nhọn, hướng từ trên xuống dưới, từ phải qua trái, sử dụng que thăm qua miệng vết rách thông vào trong khoang ngực, khép da vết rách dài 4,6cm. Bờ vai phải có 02 vết rách da, kích thước (2,7x0,7)cm và (02x0,6)cm, bờ mép gọn. Vùng ngực bên phải cách hõm nách 3,5cm có 01 vết rách da kích thước (1,7x0,8)cm. Vùng lưng: Vùng lưng bên phải vị trí cách bờ vai phải 17,5cm, cách đường giữa 5,5cm có 01 vết rách da cơ, kích thước (1,5x0,7)cm, nằm chếch chéo, đầu nhọn hướng lên trên bên phải, đầu tù phía dưới hướng từ trên xuống dưới sử dụng que thăm dò qua miệng vết rách thông vào phía trong khoang ngực. Vị trí ngang thắt lưng hông có diện xây sát da kích thước (10x6,5)cm. Vùng ngực bên trái vị trí cách hõm nách 04cm nằm trên đường nách giữa có vết rách da cơ kích thước (1,9x0,4)cm; cách hõm nách 3,5cm nằm trên đường nách sau có vết rách da cơ kích thước (2,5x0,6)cm, đầu tù phía sau, đầu nhọn phía trước, bờ mép gọn kích thước vết khép da 2,9cm, vết rách này sử dụng que thăm thông với vết rách nằm trên đường nách giữa. Tay, chân: Tay phải: Mặt trước mỏm vai có vết rách da cơ kích thước (04x02)cm. Mặt ngoài mỏm vai có vết xây sát da kích thước (03x0,4)cm. Mặt sau cánh tay cách hõm nách 1,5cm có vết rách da kích thước (2,5x1,3)cm. Mặt ngoài khuỷu có vết rách da kích thước (5,5x0,3)cm. Đốt 1 ngón 3 có 02 vết rách da kích thước (1,9x0,3)cm và (2,4x0,4)cm. Ngón 5 xây sát da kích thước (04x1,4)cm. Tay trái: Mặt sau trong 1/3 giữa cánh tay xây sát da kích thước (5x2,5)cm. Khuỷu - cẳng tay - cổ tay có diện xây sát da tụ máu kích thước (31,5x10)cm. Lòng bàn tay đốt 1 ngón 1 bầm tím kích thước (2x1,5)cm. Ô mô ngón 5 bầm tím kích thước (5,5x4,5)cm. Mỏm vai xây sát, tụ máu kích thước (6,5x2)cm. Chân phải: mặt trước gối xây sát da kích thước (6,5x5,5)cm. Ngón 1 xây sát da kích thước (1,2x0,3)cm. Chân trái: mặt trong ½ dưới đùi xây sát da, tụ máu kích thước (10,5x13)cm.
- Mổ tử thi: Vùng đầu: Rạch da vùng đầu vị trí tương ứng vết rách số (02) và số (05) thấy xương vòm sọ có vết đứt mảnh. Rạch da cơ vị trí vết số (07) mặt dưới da cơ tụ máu, cơ đứt rách về phía khe đốt sống cổ C2 - C3. Vùng ngực, bụng: Cân cơ vùng ngực tương ứng vị trí vết thủng da cơ vùng ngực bên phải tụ máu, đứt rời sụn sườn 2. Khoang ngực bên phải có khoảng 700ml máu đông lẫn máu không đông. Vùng lưng khe gian sườn 6 - 7 có vết rách cơ gian sườn tương ứng với vết rách da cơ vùng lưng phía ngoài. Nhu mô thùy giữa phổi phải có 01 vết rách kích thước (0,7x0,5)cm. Khoang ngực bên trái có ít máu. Bao màng ngoài tim rách, kiểm tra vị trí vết rách thấy thành quai động mạch chủ rách thủng kích thước (0,8 x 0,2)cm, sử dụng que thăm đo kích thước từ thành ngực vị trí vết thủng da ngực phải đến vị trí vết rách quai động mạch chủ sâu 13cm. Trong buồng tim không có máu, trong bao màng ngoài tim có nhiều máu không đông lẫn máu đông.Trong ổ bụng không có máu; gan nhu mô thuần nhất, bề mặt nhẵn. Dạ dày căng hơi, mở dạ dày bên trong còn nhiều thức ăn chưa nhuyễn hoàn toàn (dạng hạt cơm).
Kết thúc quá trình khám nghiệm tử thi đã tiến hành thu giữ: Khoảng 12ml máu tử thi đựng trong 03 tuýp nhựa; Mẫu thu giám định vi thể: Mẫu tim, mẫu động mạch chủ vị trí vết thủng, mẫu phổi, mẫu gan, mẫu dạ dày; Mẫu thu giám định độc chất: Mẫu tim, mẫu phổi, mẫu gan, mẫu dạ dày, mẫu thức ăn trong dạ dày; áo phông của tử thi đã tả trên.
* Về thương tích của Nịnh Văn K2:
- Kết quả xác minh ngày 03/10/2023, tại Bệnh viện HN LV xác định: Bệnh nhân Nịnh Văn K2 vào viện hồi 05h5’ ngày 03/10/2023, có các vết thương: 01 vết thương vùng mạn sườn trái, kích thước khoảng 12cm, nhiều quai ruột lòi qua vết thương, các quai ruột tím nhẹ, bụng co cứng; 01 vết thương mặt trước trong cánh tay trái kích thước khoảng (05 x 01)cm, rách cơ nhi đầu, đứt tĩnh mạch mềm, chảy nhiều máu qua vết thương; 01 vết thương mặt sau cánh tay trái kích thước khoảng (03 x 01)cm.
- Tại Bệnh án số 23018819 ngày 13/10/2023 của Bệnh viện HN LV xác định: Bệnh nhân Nịnh Văn K2 vào viện ngày 03/10/2023, ra viện ngày 13/10/2023, có các thương tích: Vết thương thấu bụng mạn sườn trái lộ nhiều quai ruột ra ngoài, các quai ruột tím nhẹ; 01 vết thương mặt trước trong cánh tay trái kích thước khoảng (05 x 01)cm bờ sắc gọn, chảy nhiều máu, chưa tầm soát hết đáy; vết thương mặt sau cánh tay trái kích thước khoảng (03 x 01)cm, sắc gọn, rách gân cơ tam đầu cánh tay trái.
* Về thương tích của Nguyễn Tấn T1:
- Kết quả xác minh ngày 03/10/2023, tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh VP xác định: Bệnh nhân Nguyễn Tấn T1 vào viện hồi 05h01’ ngày 03/10/2023, có các vết thương: Vết thương lóc da 1/3 mặt sau cẳng tay trái, kích thước (4 x 8)cm, bờ mép gọn, đứt cơ vùng mặt sau cẳng tay trái; vết thương 1/3 mặt sau cẳng tay trái, kích thước (0,5 x 02)cm; vết thương mặt sau cổ tay trái kích thước (01 x 03)cm. Kết quả chụp Xquang xương cẳng tay trái bình thường.
- Tại Bệnh án số 9555 ngày 03/10/2023 của Bệnh viện QY 109 Cục HC/QK2 xác định: Bệnh nhân Nguyễn Tấn T1 vào viện ngày 03/10/2023, ra viện ngày 04/10/2023, có các thương tích: Vết thương lóc da 1/3 mặt sau cẳng tay trái, kích thước (4 x 8)cm, bờ mép gọn, đứt cơ vùng mặt sau cẳng tay trái; vết thương 1/3 mặt sau cẳng tay trái, kích thước (0,5 x 02)cm; vết thương mặt sau cổ tay trái kích thước (01 x 03)cm. Kết quả chụp Xquang xương cẳng tay trái bình thường.
* Đối với thương tích của Hoàng Công T2:
- Kết quả xác minh ngày 05/10/2023, tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh VP xác định: Bệnh nhân Hoàng Công T2 vào viện hồi 05 giờ 53 phút ngày 03/10/2023, có các vết thương: Sưng nề biến dạng chảy máu cẳng tay trái, ấn đau nhói, sờ thấy lạo sạo xương gãy, vết thương mặt ngoài cẳng tay trái chảy máu lẫn mỡ tuỷ, kích thước 06cm. Kết quả chụp Xquang cẳng tay trái thấy: Gãy ½ trên xương trụ tay trái.
- Tại Bệnh án số 048633 ngày 12/10/2023 của Bệnh viện Đa khoa tỉnh VP xác định: Bệnh nhân Công T2 vào viện ngày 03/10/2023, ra viện ngày 12/10/2023, có các thương tích: Sưng nề biến dạng cẳng tay trái, ấn đau, sờ thấy lạo sạo xương gãy, 01 vết thương mặt ngoài cẳng tay trái chảy máu lẫn mỡ tuỷ, kích thước 06cm; 01 vết thương ngón 1 bản tay phải kích thước 02cm chảy máu, lộ gân. Kết quả chụp Xquang cẳng tay trái thấy: Gãy ½ trên xương trụ tay trái.
* Các kết luận giám định.
1. Ngày 03/10/2023, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh VP ra Quyết định trưng cầu giám định số 470 trưng cầu Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh giám định Pháp y tử thi Nguyễn Thanh T6 để xác định nguyên nhân tử vong và thời gian tử vong. Tại Bản kết luận giám định số 3152/KLGĐTT-PC09-PY, ngày 22 tháng 11 năm 2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh VP kết luận:
“- Nguyên nhân chết của Nguyễn Thanh T6: Vết thương thấu ngực (rách thủng động mạch chủ, nhu mô phổi phải)
- Thời gian chết: Căn cứ tình trạng biến đổi của tử thi, thức ăn trong dạ dày tử thi xác định:
+ Thời gian chết tính đến thời điểm khám nghiệm khoảng 4-5 tiếng
+ Thời gian chết sau thời điểm bữa ăn cuối dưới 3 tiếng.
- Cơ chế hình thành vết thương:
+ Các vết rách da cơ bờ mép gọn, hai đầu nhọn hình thành do sự tác động của lưỡi sắc của vật cứng.
+ Các vết rách da cơ bờ mép gọn, một đầu tù một đầu nhọn hình thành do sự tác động của các vật cứng có đầu nhọn và một cạnh (lưỡi) sắc dọc thân.
+ Các vết sây sát, bầm tụ máu hình thành do tác động va đập của cơ thể với vật tày cứng.”
2. Ngày 04/10/2023, Cơ quan CSĐT (CSHS) Công an tỉnh VP ra các Quyết định trưng cầu giám định số 474, 475, 477 trưng cầu Viện Pháp y Quân đội giám định nồng độ cồn, chất ma túy trong mẫu máu của Nguyễn Thanh T6, Đinh Văn V1, Đinh Trung T3; trưng cầu giám định độc chất trong mẫu tim, phổi, gan, dạ dày, thức ăn trong dạ dày của Nguyễn Thanh T6
Tại Bản kết luận giám định số 1391/PY-XNĐH, ngày 18 tháng 10 năm 2023 của Viện Pháp y Quân đội kết luận:
“- Không tìm thấy Ethanol trong máu của Nguyễn Thanh T6, Đinh Văn V1, Đinh Trung T3.
- Không tìm thấy các chất ma túy trong mẫu máu của Đinh Văn V1, Đinh Trung T3.
- Tìm thấy các chất ma tuý Ketamin và chất chuyển hóa của Ketamin là Norketamin trong máu của Nguyễn Thanh T6.
- Không tìm thấy các chất độc trong mẫu phủ tạng, chất chứa trong dạ dày của Nguyễn Thanh T6”
3. Ngày 04/10/2023, Cơ quan CSĐT (CSHS) Công an tỉnh VP ra Quyết định trưng cầu giám định số 476 trưng cầu Trung tâm Pháp y tỉnh VP giám định vi thể đối với mẫu tim, mẫu động mạch chủ, mẫu phổi, mẫu gan, mẫu dạ dày của tử thi Nguyễn Thanh T6.
Tại Bản kết luận giám định mô bệnh học số: CA08/KLMBH-PYVP ngày 16 tháng 10 năm 2023 của Trung tâm Pháp y tỉnh VP, kết luận:
“- Tổ chức động mạch chủ: Tổn thương mới đứt rách hoàn toàn các lớp áo, tụ máu quanh tổ chức.
- Phổi: Phù, xung huyết, xuất huyết, đứt rách phế nang diện rộng. Co thắt tiểu khí quản.
- Gan: Xơ gan mức độ nặng, viêm gan mãn, nhiễm mỡ mức độ nhẹ.
- Dạ dày: Rải rác các ổ viêm mãn.
- Tim: Xung huyết”
4. Ngày 04/10/2023, Cơ quan CSĐT (CSHS) Công an tỉnh VP ra các Quyết định trưng cầu giám định số 478, 479, 480, 481, 482, 483 trưng cầu Viện Pháp y Quân đội giám định ADN đối với các vật chứng thu giữ trong quá trình khám nghiệm hiện trường và điều tra vụ án.
Tại Bản kết luận giám định ADN số HT607.23/PY-XNSH ngày 16/10/2023 của Viện Pháp y Quân đội kết luận:
“- Dấu vết thu trên bề mặt lưỡi dao của con dao vật chứng thu giữ của Nguyễn Tấn T1 gửi giám định là máu người; có ADN nhiễm sắc thể thường bị trộn lẫn, trùng khớp với ADN nhiễm sắc thể thường từ mẫu máu của tử thi Nguyễn Thanh T6 và mẫu máu của anh Nguyễn Tấn T1.
- Dấu vết thu trên bề mặt chuôi dao của con dao vật chứng thu giữ của Nguyễn Tấn T1 gửi giám định có sinh phẩm của người; có ADN nhiễm sắc thể thường trùng khớp với ADN nhiễm sắc thể thường từ mẫu máu tử thi Nguyễn Thanh T6”.
Tại Bản kết luận giám định ADN số HT608.23/PY-XNSH ngày 16/10/2023 của Viện Pháp y Quân đội kết luận:
“- Dấu vết thu trên bề mặt chuôi dao của con dao thu ở vị trí số 6 (dao tông) tại hiện trường có sinh phẩm con người nhưng nồng độ thấp, không đủ so sánh
- Dấu vết thu trên bề mặt lưỡi dao của con dao thu ở vị trí số 6 (dao tông) tại hiện trường gửi giám định là máu người, có ADN nhiễm sắc thể thường bị trộn lẫn, trùng khớp với ADN của Nguyễn Thanh T6 và Nguyễn Tấn T1.”
Tại Bản kết luận giám định ADN số HT609.23/PY-XNSH ngày 16/10/2023 của Viện Pháp y Quân đội kết luận:“- Dấu vết thu trên 01 quần vải màu đen thu của Nguyễn Tấn T1 gửi giám định là máu người; có ADN trùng khớp với ADN của Nguyễn Tấn T1.”
Tại Bản kết luận giám định ADN số HT610.23/PY-XNSH ngày 16/10/2023 của Viện Pháp y Quân đội kết luận: “- Dấu vết thu trên 01 áo phông cộc tay màu đen thu của Nguyễn Thanh T6 gửi giám định là máu người; có ADN trùng khớp với ADN của Nguyễn Thanh T6.”
Tại Bản kết luận giám định ADN số HT611.23/PY-XNSH ngày 16/10/2023 của Viện Pháp y Quân đội kết luận:
“- Dấu vết trên tăm bông thu mẫu chất màu nâu đỏ tại vị trí số 1 tại hiện trường gửi giám định là máu người, có ADN trùng khớp với ADN của Nguyễn Tấn T1, Hoàng Công T2.
- Dấu vết trên tăm bông thu mẫu chất màu nâu đỏ tại vị trí số 2, vị trí số 3, vị trí số 5, vị trí số 6 tại hiện trường, chất màu nâu đỏ dạng quệt thu trên tường công trình dự án Đài phát thanh truyền hình tỉnh VP, chất màu nâu đỏ thu tại khu đất giáp tường dự án Đài phát thanh truyền hình tỉnh VP gửi giám định đều là máu người, có ADN trùng khớp với ADN của Nguyễn Tấn T1.
- Dấu vết tăm bông thu mẫu chất màu nâu đỏ thu tại vị trí số 4 tại hiện trường gửi giám định là máu người, có ADN trùng khớp với ADN của Nịnh Văn K2.
- Dấu vết trên tăm bông thu mẫu chất màu nâu đỏ thu tại vị trí số 8 tại hiện trường gửi giám định là máu người, có ADN trùng khớp với ADN của Nịnh Văn K2 và Hoàng Công T2.”
Tại Bản kết luận giám định ADN số HT612.23/PY-XNSH ngày 16/10/2023 của Viện Pháp y Quân đội kết luận: “Dấu vết thu trên 01 áo phông cộc tay màu đen thu của Hoàng Công T2 gửi giám định là máu người; có ADN trùng khớp với ADN của Hoàng Công T2.”
5. Ngày 12/10/2023, Cơ quan CSĐT (CSHS) Công an tỉnh VP ra Quyết định trưng cầu giám định số 499 trưng cầu Viện Pháp y Quân đội giám định ADN đối với 01 đoạn kim loại sơn màu đen, dạng ống vuông, dài khoảng 1,04m, bề rộng các cạnh khoảng 2,5cm thu tại khu vực hiện trường vụ án.
Tại Bản kết luận giám định số HT618.23/PY-XNSH ngày 17/10/2023 của Viện pháp y Quân đội kết luận: “- Dấu vết thu trên thanh kim loại gửi giám định có sinh phẩm của người; có ADN nhiễm sắc thể thường trùng khớp với ADN nhiễm sắc thể thường từ mẫu máu của tử thi Nguyễn Thanh T6 (ký hiệu M1) và mẫu máu của anh Hoàng Công T2 (ký hiệu M4).”
6. Ngày 20/10/2023, Cơ quan CSĐT (CSHS) Công an tỉnh VP ra Quyết định giám định số 504 trưng cầu Viện Pháp y Quân đội giám định ADN đối với 01 cây chổi quét đã qua sử dụng, cán chổi dạng tre, dài khoảng 1,2m, đường kính cán chổi khoảng 0,2cm, phần chổi quét làm bằng nhiều sợi nilon màu xanh, đỏ, thu tại khu vực hiện trường vụ án
Tại Bản kết luận giám định số HT647.23/PY-XNSH ngày 24/10/2023 của Viện Pháp y Quân đội kết luận:
“- Dấu vết trên cây chổi gửi giám định có sinh phẩm của người; có ADN nhiễm sắc thể thường trùng khớp ADN nhiễm sắc thể thường từ mẫu máu của anh Nguyễn Tấn T1 (ký hiệu M2).”
7. Ngày 30/10/2023, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh VP ra các Quyết định trưng cầu giám định số 526, 527, 528, 529 trưng cầu Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh giám định kỹ thuật số điện tử đối với các đoạn video camera an ninh trích xuất, thu được tại khu vực hiện trường vụ án.
- Tại Bản kết luận giám định số 20 ngày 01/01/2024, của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh VP, giám định đối với 01 tệp video được thu giữ tại camera an ninh của cửa hàng điện máy xanh, kết luận:
“Trích xuất được 06 ảnh theo yêu cầu giám định từ một tệp video lưu trong mẫu vật gửi giám định.
Sao lưu được một tệp video trong mẫu vật gửi giám định vào đĩa DVD”.
- Tại Bản kết luận giám định số 21 ngày 01/01/2024, của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh VP, giám định đối với 02 tệp video được thu giữ tại camera an ninh của công trường xây dựng Đài phát thanh truyền hình tỉnh VP, kết luận:
“Trích xuất được 09 ảnh theo yêu cầu giám định từ một tệp video lưu trong mẫu vật gửi giám định.
Sao lưu được một tệp video trong mẫu vật gửi giám định vào đĩa DVD”.
Nghiên cứu bản ảnh, video kèm theo kết luận giám định thấy có hình ảnh các đối tượng mâu thuẫn đánh nhau, dồn đuổi đánh nhau tại khu vực trước quán ăn đêm của chị T5 và chị H2.
- Tại Bản kết luận giám định số 22 ngày 01/01/2024, của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh VP, giám định đối với 01 tệp video được thu giữ tại camera an ninh của bà Nguyễn Thị C1, kết luận.
“Trích xuất được 18 ảnh theo yêu cầu giám định từ một tệp video lưu trong mẫu vật gửi giám định.
Sao lưu được một tệp video trong mẫu vật gửi giám định vào đĩa DVD”.
Nghiên cứu bản ảnh, video kèm theo kết luận giám định thấy có hình ảnh diễn biến sự việc, các đối tượng mâu thuẫn , dồn đuổi đánh nhau ở khu vực cổng phòng trọ của chị Nguyễn Thị Hà T4.
8. Ngày 05/12/2023, Cơ quan CSĐT (CSHS) Công an tỉnh VP ra các Quyết định trưng cầu giám định số 564, 565, 566 trưng cầu Trung tâm Pháp y tỉnh VP giám định tỉ lệ thương tích, cơ chế hình thành vết thương đối với Nịnh Văn K2, Hoàng Công T2 và Nguyễn Tấn T1.
- Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 455/KLTTCT-PYVP ngày 11/12/2023 của Trung tâm Pháp y tỉnh VP giám định đối với thương tích của Hoàng Công T2, kết luận:
“1. Các kết quả chính:
- Sẹo vết thương phần mềm mặt mu liên đốt 1 - 2 ngón I tay phải kích thước nhỏ xếp: 01%.
- Sẹo vết thương phần mềm 1/3 giữa mặt trong sau cẳng tay trái kích thước trung bình xếp: 02%.
- Gãy ½ trên xương trụ tay trái còn phương tiện kết hợp xương xếp: 06%.
- Hiện tại gãy ½ trên xương trụ tay trái còn phương tiện kết xương và chưa đánh giá được ảnh hưởng chức năng, giám định bổ sung.
- Cơ chế hình thành vết thương:
Sẹo vết thương phần mềm 1/3 giữa mặt trong sau cẳng tay trái có thể là do vật sắc gọn gây nên.
Các thương tích còn lại có thể là do vật tày gây nên.
2. Kết luận:
- Căn cứ Thông tư số 22 ngày 28 tháng 8 năm 2022 của Bộ Y tế quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Hoàng Công T2 tại thời điểm giám định là: 09% . Áp dụng theo phương pháp cộng tại thông tư”.
- Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 456A/KLTTCT-PYVP ngày 11/12/2023 của Trung tâm Pháp y tỉnh VP giám định đối với thương tích của Nguyễn Tấn T1, kết luận:
“1. Các kết quả chính:
+ Sẹo vết thương phần mềm 1/3 trên mặt trong sau cẳng tay trái kích thước trung bình xếp: 02%.
+ Sẹo vết thương phần mềm đầu trên của vết sẹo này kích thước nhỏ xếp: 01%.
+ 02 Sẹo vết thương phần mềm mặt ngoài sau cổ tay trái kích thước nhỏ mỗi vết xếp: 01%; 01%.
- Cơ chế hình thành vết thương: Các thương tích đã mô tả trên có thể là do vật sắc gây nên.
2. Kết luận:
- Căn cứ Thông tư số 22 ngày 28 tháng 8 năm 2022 của Bộ Y tế quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Tấn T1 tại thời điểm giám định là: 05%. Áp dụng theo phương pháp cộng tại thông tư.”
- Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 460/KLTTCT-PYVP ngày 17/01/2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh VP giám định đối với thương tích của Nịnh Văn K2, kết luận:
“1. Các kết quả chính:
- Cắt đoạn thuộc hỗng tràng dưới 1m xếp: 36%.
- Khâu phúc mạc thành xếp: 03%.
- Sẹo mổ đường trắng giữa trên dưới rốn kích thước trung bình xếp: 02%.
- Sẹo mổ dẫn lưu vùng hố chậu phải kích thước nhỏ xếp: 01%.
- Sẹo vết thương phần mềm 1/3 dưới mạn sườn trái kích thước trung bình xếp: 02%.
- Sẹo vết thương phần mềm 1/3 giữa mặt trong cánh tay trái kích thước trung bình xếp: 02%.
- Sẹo vết thương phần mềm 1/3 dưới mặt sau cánh tay trái kích thước nhỏ xếp: 01%.
- Khâu tĩnh mạch nền tay trái không có trong danh mục xếp tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể.
- Cơ chế hình thành dấu vết tổn thương: Các thương tích đã mô tả trên có thể là do vật sắc nhọn gây nên.
2. Kết luận:
- Căn cứ Thông tư số 22 ngày 28 tháng 8 năm 2022 của Bộ Y tế quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Ninh Văn K2 tại thời điểm giám định là: 43%. Áp dụng theo phương pháp cộng tại thông tư.”
* Kết quả thực nghiệm điều tra:
Ngày 23/9/2024, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh VP tiến hành thực nghiệm điều tra, trong đó cho các bị cáo Nguyễn Tấn T1, Hoàng Công T2, Đinh Văn V1 lần lượt chỉ dẫn, mô tả và diễn lại hành vi dồn đuổi, đánh, đâm anh Nguyễn Thanh T6. Kết quả thấy rằng hành vi của các bị cáo trong quá trình thực nghiệm phù hợp với lời khai của các bị cáo này tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại và phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 21/2025/HS-ST ngày 13 tháng 3 năm 2025, Tòa án nhân dân tỉnh VP, quyết định:
- Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Tấn T1 và Hoàng Công T2 phạm tội “Giết người”.
- Căn cứ điểm a, n khoản 1 Điều 123; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 17, 39 và 58 của Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn T1 tù Chung thân, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 04/10/2023.
- Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 17, 38 và 58 của Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017:
Xử phạt bị cáo Hoàng Công T2 14 năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 12/10/2023.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về tội danh và hình phạt đối với các bị cáo khác, trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 16/3/2025, bị cáo Hoàng Công T2 có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Ngày 19/3/2025, bị cáo Nguyễn Tấn T1 có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Ngày 26/3/2025, bị cáo Đinh Văn V1 có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Ngày 04/4/2025, bị cáo Đinh Văn V1 đã có đơn xin rút toàn bộ kháng cáo. Ngày 30/7/2025, Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội đã đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị cáo Đinh Văn V1 tại Quyết định số 06/2025/HSPT-QĐ.
Tại phiên tòa phúc thẩm,
Các bị cáo Nguyễn Tấn T1, Hoàng Công T2 đều giữ nguyên kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện Công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại HN phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: Bản án sơ thẩm đã phân tích, đánh giá hành vi phạm tội của từng bị cáo, vai trò của các bị cáo để xem xét áp dụng mức hình phạt đối với từng bị cáo là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng nhưng không có tình tiết giảm nhẹ nào mới. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.
Người bào chữa cho các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho 2 bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ tài liệu trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm các bị cáo, bị hại, đại diện bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi của người tiến hành tố tụng trong vụ án là hợp pháp.
. Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của người làm chứng; phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản thu giữ vật chứng, các kết luận giám định và những tài liệu, chứng cứ khác được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, có đủ cơ sở để xác định:
. Đối với Nguyễn Tấn T1 dùng dao nhọn dạng dao gấp, có một đầu nhọn, lưỡi dao dài khoảng 15cm, cán làm bằng sắt đâm liên tiếp 02 nhát vào K2, trong đó 01 nhát trúng vào cẳng tay trái, một nhát vào vùng mạn sườn bên trái của K2 (là vùng trọng yếu trên cơ thể) làm ruột bị lòi ra ngoài, sau đó trong quá trình bỏ chạy do bị mất nhiều máu nên K2 đã bị ngất; ngoài ra Tấn T1 cầm dao nhọn đâm 01 nhát theo chiều từ sau ra trước, trúng vào vùng lưng của T6 làm T6 gục xuống vỉa hè, sau đó Tấn T1 đi đến đứng phía sau lưng T6, tay trái ghì vào vai trái của T6, tay phải cầm dao đâm liên tiếp nhiều nhát trúng vào phần đầu, phần ngực của T6 làm T6 gục xuống và bị tử vong, K2 được cấp cứu kịp thời nên không bị tử vong (nhưng bị thương tích 43%). Do đó hành vi của Nguyễn Tấn T1 đã phạm vào tội “Giết người” với các tình tiết định khung tăng nặng là “có tính chất côn đồ”, “giết 02 người trở lên”, theo quy định tại các điểm a, n khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự, với vai trò là người thực hành.
. Đối với Hoàng Công T2, trong quá trình ăn đêm, uống rượu sau đó do Tấn T1 và V1 xảy ra mâu thuẫn, xích mích với T6, K2 (xảy ra khi Tấn T1 và V1 đưa chị T4, chị L2 về), nên bị cáo có hành vi đã dùng cán chổi, đoạn kim loại cùng với Tấn T1 dùng dao nhọn, Đinh Văn V1 dùng dây thắt lưng dồn đuổi, đánh, đâm, chém T6, hậu quả làm T6 tử vong. Hành vi trên của Hoàng Công T2 đã phạm vào tội Giết người. Khi Tấn T2 đâm Nịnh Văn K2 thì Công T1 chưa về đến quán của chị H2, không chứng kiến, không tham gia việc Tấn T1 đâm K2. Chỉ khi về đến quán của chị H2, Công T2 đã cùng Tấn T1, V1 đuổi đánh, đâm Nguyễn Thanh T6 làm T6 bị tử vong. Do đó, hành vi của Hoàng Công T2 đã phạm vào tội “Giết người”, với tình tiết định khung tặng nặng là “có tính chất côn đồ”, theo quy định tại các điểm n khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự vai trò là đồng phạm giúp sức cho Tấn T1.
. Hành vi phạm tội của các bị cáo thể hiện tính chất nguy hiểm, đã xâm phạm trực tiếp đến tính mạng, sức khoẻ của người khác; ảnh hưởng đến trật tự và an toàn công cộng được pháp luật bảo vệ gây tâm lý hoang mang, lo lắng cho quần chúng nhân dân nên cần xử phạt nghiêm khắc để răn đe, trấn áp đối với loại tội phạm này.
. Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng:
. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Quá trình điều tra và tại các phiên tòa, các bị cáo Tấn T1 và Công T2 đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; do đó các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Sau khi sự việc xảy ra, bị cáo Công T2 đã tác động để gia đình bồi thường chi phí mai táng phí, tổn thất tinh thần cho đại diện bị hại bà Vũ Thị H3 (mẹ đẻ T6) số tiền là 150.000.000đ. Sau khi nhận số tiền này, bà H3 có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Công T2. Ngoài ra trong vụ án này (liên quan hành vi giết người) bị hại T6 và K2 là người có lỗi rất lớn, chính T6, K2 là người gây sự dùng chân tay, cán chổi, đoạn gậy sắt và dùng dao đánh Tấn T1 và V1 trước. Do đó, các bị cáo Tấn T1, Công T2 được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
. Xét nhân thân, vị trí, vai trò của các bị cáo trong vụ án thấy rằng:
Bị cáo Tấn T1 dùng 01 con dao dạng dao gấp, chuôi dao dài khoảng 15cm, lưỡi dao bằng kim loại dài khoảng 10cm, bản rộng khoảng 2,5cm là hung khí nguy hiểm đâm K2 02 nhát, 01 nhát vào mạn sườn (là vùng trọng yếu làm bị cáo K2 bị thương lòi ruột, sau đó bị ngất), đồng thời đâm chém rất nhiều nhát vào vùng lưng, đầu, mặt và ngực dẫn đến T6 tử vong và K2 thương tích 43% (được cấp cứu kịp thời nên không chết). Hành vi của bị cáo Tấn T1 thể hiện tính chất côn đồ, manh động, coi thường pháp luật, sẵn sàng tước đoạt tính mạng của nhiều người (02 người) một cách trái pháp luật. Bản thân bị cáo là người có nhân thân rất xấu, bị cáo có 01 tiền sự, năm 2023 bị Công an thành phố VY ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (chưa được xóa). Năm 2020 bị Toà án nhân dân huyện YL, tỉnh VP xử phạt 01 năm tù về tội Trộm cắp tài sản (đã được xóa). Đến nay bị cáo lại tiếp tục phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, giữ vai trò chính trong vụ án, vì vậy cần phải xử lý thật nghiêm khắc đối với bị cáo mới đảm bảo tác dung răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Bị cáo Công T2 phạm vào tội “Giết người” với vai trò đồng phạm với bị cáo Tấn T1. Trong đó, bị cáo V1 cùng với bị cáo Tấn T1 tham gia đánh nhau với T6 và K2 từ đầu (bị cáo Tấn T1 đánh nhau và đâm T6, bị cáo V2 đánh nhau với K2), bị cáo V1 dùng dây lưng cùng với Tấn T1, Công T2 dồn đuổi, bị cáo V1 dùng chân tay, dây lưng da, Công T2 dùng cán chổi, thanh sắt rỗng, Tấn T1 dùng dao đâm chém dẫn đến T6 bị tử vong. Hành vi của các bị cáo thể hiện tính chất côn đồ, manh động, coi thường pháp luật, sẵn sàng tước đoạt tính mạng của người khác một cách trái pháp luật. Mặc dù bị cáo Công T2 phạm tội lần đầu, nhưng các bị cáo phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, vì vậy cần phải xử lý nghiêm khắc đối với các bị cáo mới đảm bảo tác dụng răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Tòa án cấp sơ thẩm quyết định về tội danh và hình phạt đối với các bị cáo Nguyễn Tấn T1 và Hoàng Công T2 đúng quy định của pháp luật. Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Nguyễn Tấn T1 và Hoàng Công T2 kháng cáo xin giảm hình phạt nhưng không xuất trình thêm chứng cứ làm thay đổi nội dung vụ án. Vì vậy, cần bác kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Tấn T1 và Hoàng Công T2, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm như đề nghị của đại diện Viện Công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại HN tham gia phiên tòa.
. Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên các bị cáo Nguyễn Tấn T1 và Hoàng Công T2 phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm, không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Tấn T1 và Hoàng Công T2. Giữ nguyên quyết định của Bản án hình sự sơ thẩm số 21/2025/HS-ST ngày 13 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân tỉnh VP (nay là Tòa án nhân dân tỉnh PT) về hình phạt đối với các bị cáo Nguyễn Tấn T1 và Hoàng Công T2.
- Căn cứ điểm a, n khoản 1 Điều 123; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 17, 39 và 58 của Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn T1 tù Chung thân về tội “Giết người”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04/10/2023.
- Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 17, 38 và 58 của Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Hoàng Công T2 14 (Mười bốn) năm tù về tội “Giết người”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 12/10/2023.
2. Án phí: Các bị cáo Nguyễn Tấn T1 và Hoàng Công T2 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm, không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VCT&KSXXPT tại HN; - TAND tỉnh PT; - VKSND tỉnh PT; - THADS tỉnh PT; - Công an tỉnh PT; - Trại tạm giam số 2 CA tỉnh PT; - Bị cáo (qua Trại tạm giam); - Lưu HS; HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Cường |