vanban.org

Bản án 106/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho ông Đặng Văn Kh ly hôn bà Ngô Kim L.

Về quyền nuôi con chung: Giao con là Đặng Thị Hồng Y, sinh ngày 03/6/2008 cho ông Đặng Văn Kh tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng. Bà Ngô Kim L không cấp dưỡng nuôi con. Bà Ngô Kim L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được quyền cản trở.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho ông Đặng Văn Kh ly hôn bà Ngô Kim L.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 3 - CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 106/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 18-8-2025
V/v xin ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Văn Thị Vẹn

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Phạm Hồng Ân

Ông Trần Minh Út

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Bảo Trân là Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Cà Mau.

Ngày 18 tháng 8 năm 2025, tại Tòa án nhân dân khu vực 3 - Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 180/2025/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 5 năm 2025 về việc xin ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 117/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 7 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Đặng Văn Kh, sinh năm 1979 (xin vắng mặt).

Địa chỉ: Số nhà 1231, đường A khu phố C, xã B, tỉnh Tây Ninh

- Bị đơn: Bà Ngô Kim L, sinh năm 1981 (vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp T, xã P, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 12/02/2025, các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, ông Đặng Văn Kh trình bày:

Ông và bà Ngô Kim L tìm hiểu và làm đám cưới năm 2006, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau vào ngày 11/5/2006. Vợ chồng sống chung có nhiều quan điểm khác nhau, thường xuyên mâu thuẫn, cải vã, sống chung nhà nhưng không ai quan tâm đến ai, từ đó mâu thuẫn càng nhiều, ông cố gắng hàn gắn nhưng không thành, nên ông và bà L quyết định ly thân, bà L bỏ về quê tại huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau sinh sống gần 10 năm nay. Do tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông yêu cầu ly hôn bà Ngô Kim L. Ông và bà Ngô Kim L có hai người con chung là Đặng Thị Hồng Ph, sinh ngày 18/3/2007 và Đặng Thị Hồng Y, sinh ngày 03/6/2008, hiện hai cháu sống cùng với ông. Nay ông yêu cầu tiếp tục nuôi hai người con chung, không yêu cầu bà L cấp dưỡng nuôi con. Ông và bà L không có tài sản chung và nợ chung.

Bà Ngô Kim L được triệu tập hợp lệ tham gia tố tụng nhiều lần nhưng đều vắng mặt không lý do, không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Ông Đặng Văn Kh khởi kiện bà Ngô Kim L yêu cầu ly hôn và giải quyết về con chung nên đây là vụ án hôn nhân và gia đình, quan hệ tranh chấp về “xin ly hôn”, bị đơn bà Ngô Kim L cư trú tại xã P, tỉnh Cà Mau nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Cà Mau theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Ông Đặng Văn Kh có yêu cầu xin vắng mặt, bà Ngô Kim L được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do, do đó Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự là đúng theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Về quan hệ hôn nhân, ông Đặng Văn Kh và bà Ngô Kim L kết hôn năm 2006, ngày 11/5/2006 đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau (nay là xã P, tỉnh Cà Mau) nên quan hệ hôn nhân giữa ông Kh và bà L được pháp luật công nhận là hôn nhân hợp pháp. Xét thấy, ông Kh và bà L thường xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm và sống ly thân gần 10 năm, bà L không có ý kiến đối với yêu cầu ly hôn của ông Kh. Từ đó, cho thấy quan hệ hôn nhân giữa ông Kh và bà L đã lâm vào tình trạng trầm trọng, không thể hàn gắn, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận cho ông Đặng Văn Kh ly hôn bà Ngô Kim L là có căn cứ theo quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.

[4] Về con chung, ông Kh và bà L có hai người con chung là Đặng Thị Hồng Ph và Đặng Thị Hồng Y. Xét thấy cháu Đặng Thị Hồng Ph đến ngày xét xử đã đủ 18 tuổi, nên không đặt ra xem xét. Đối với cháu Đặng Thị Hồng Y, hiện đang sống với ông Kh và cháu có nguyện vọng tiếp tục sống với cha. Do đó, để ổn định môi trường sống, học tập và phù hợp nguyện vọng của con chung, Hội đồng xét xử xem xét giao cháu Đặng Thị Hồng Y cho ông Đặng Văn Kh tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Ông Kh không yêu cầu bà L cấp dưỡng nuôi con nên không đặt ra xem xét.

[5] Ông Kh và bà L không yêu cầu giải quyết về tài sản chung và nợ chung nên không đặt ra xem xét.

[6] Về án phí: Ông Đặng Văn Kh phải chịu án phí hôn nhân và gia đình theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án, ông Đặng Văn Kh đã nộp tạm ứng xong nay chuyển thu.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Áp dụng các Điều 56, 81, 82 và 83 của Luật hôn nhân và gia đình;

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho ông Đặng Văn Kh ly hôn bà Ngô Kim L.

2. Về quyền nuôi con chung: Giao con là Đặng Thị Hồng Y, sinh ngày 03/6/2008 cho ông Đặng Văn Kh tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng. Bà Ngô Kim L không cấp dưỡng nuôi con.

Bà Ngô Kim L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được quyền cản trở.

3. Về án phí: Ông Đặng Văn Kh chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng, theo biên lai thu tiền số 0004135 ngày 16 tháng 5 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 3- Cà Mau), như vậy ông Đặng Văn Kh không còn phải nộp thêm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ