vanban.org

Bản án 106/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn T. Cho ông Trần Văn T được ly hôn với bà Phạm Thị Thúy M.

Về nuôi con chung: 1. Ông Trần Văn T được tiếp tục chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung Trần Thị Kim N, sinh ngày 28 tháng 8 năm 2016. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn giữa ông T và bà M"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn T. Cho ông Trần Văn T được ly hôn với bà Phạm Thị Thúy M.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 12 - ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 106/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 22-12-2025
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Lương Bằng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Bùi Tấn Dũng.

2. Ông Nguyễn Tuấn Lam.

Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Y Phụng - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 12 - Đồng Tháp.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 - Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Trần Thái Hưng - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 12 - Đồng Tháp, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 336/2025/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 10 năm 2025, về ly hôn, tranh chấp về nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 265/2025/QĐXX-HNGĐ ngày 14 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Trần Văn T, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1989; Nơi cư trú: Ấp LC, xã ĐT, tỉnh Cà Mau. Có đơn xin vắng mặt.

2. Bị đơn: Bà Phạm Thị Thúy M, sinh năm 1987; Nơi cư trú: Ấp PTB, xã LPT, tỉnh Đồng Tháp. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 09 tháng 9 năm 2025 và biên bản lấy lời khai ngày 14 tháng 11 năm 2025 của nguyên đơn ông Trần Văn T trình bày: Ông và bà M cưới nhau năm 2015, có đăng ký kết hôn tại xã ĐT, huyện ĐH, tỉnh Bạc Liêu (nay là xã ĐT, tỉnh Cà Mau). Hôn nhân do tự tìm hiểu trước. Sau khi cưới thì sống bên gia đình nhà ông. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc. Khoảng giữa năm 2017 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cãi vả nhau những chuyện lặt vặt trong cuộc sống nhưng lý do chính mà vợ chồng không hạnh phúc là do bà M muốn ông cùng với bà M về nhà cha mẹ ruột của bà M sinh sống, không muốn sống bên gia đình nhà chồng, nhưng ông không đồng ý nên bà M giận bỏ về nhà cha mẹ ruột. Đến giữa năm 2018 ông có gọi điện thoại năn nỉ bà M về nhà sống chung với ông, bà M có về nhưng vợ chồng chung sống được 05 tháng thì bà M tiếp tục bỏ về nhà cha mẹ ruột một lần nữa. Vợ chồng ông không còn sống chung từ giữa năm 2018 cho đến nay. Ngoài ra, vợ chồng không còn mâu thuẫn nào khác. Từ lúc vợ chồng không sống chung thì không có gặp nhau để hàn gắn được tình cảm. Nay nhận thấy tình cảm không còn nữa nên ông yêu cầu được ly hôn với bà M.

Về nuôi con chung: Vợ chồng chung sống có 01 con chung tên là Trần Thị Kim N, sinh ngày 28 tháng 8 năm 2016, cháu Kim N sống với ông từ khi sinh ra cho đến nay. Từ khi vợ chồng không sống chung thì bà M không thăm nom cũng không gửi tiền hay quà cho con chung. Hiện nay ông làm nghề nuôi tôm, mua bán gà, vịt, thu nhập trung bình mỗi tháng được 15.000.000 đồng, đủ khả năng nuôi con, còn bà M hiện làm công nhân không rõ thu nhập bao nhiêu. Ông yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung Trần Thị Kim N, sinh ngày 28 tháng 8 năm 2016, tự nguyện không yêu cầu bà M cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản khai đề ngày 24 tháng 10 năm 2025 cháu Trần Thị Kim N trình bày: “Cha mẹ ly hôn, con muốn sống với cha”.

Trong quá trình tiến hành tố tụng bị đơn bà Phạm Thị Thúy M đã được Tòa án tiến hành tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng bà Phạm Thị Thúy M vẫn không có mặt và không gửi văn bản ghi ý kiến của mình cho Tòa án đối với yêu cầu khởi kiện của ông T.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu ý kiến: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử, căn cứ các Điều 9, 14, 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và Gia đình: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, cho ông Trần Văn T được ly hôn với bà Phạm Thị Thúy M; Về nuôi con chung: Giao con chung Trần Thị Kim N, sinh ngày 28 tháng 8 năm 2016 cho ông T tiếp tục nuôi dưỡng, bà M không phải cấp dưỡng nuôi con do ông T không có yêu cầu; Về tài sản, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết.

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên. Hội đồng xét xử nhận định:

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Đây là vụ kiện ly hôn, tranh chấp về nuôi con thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng Dân sự và Điều 53 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Nguyên đơn ông Trần Văn T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn bà Phạm Thị Thúy M đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham dự phiên tòa sơ thẩm nhưng bà M vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, căn cứ khoản 2 Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa ông Trần Văn T và bà Phạm Thị Thúy M là hôn nhân hợp pháp, có đăng ký kết hôn và hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình. Xét yêu cầu ly hôn của ông Trần Văn T đối với bà Phạm Thị Thúy M, Hội đồng xét xử xét thấy: Theo trình bày của ông T thì cuộc sống của ông và bà M đã bắt đầu có sự mâu thuẫn, chung sống không hạnh phúc từ giữa năm 2017, nguyên nhân do mẫu thuẫn những chuyện lặt vặt trong cuộc sống và bà M muốn ông cùng với bà M về nhà cha mẹ ruột của bà M sinh sống, không muốn sống bên gia đình nhà chồng, nhưng ông không đồng ý nên bà M giận bỏ về nhà cha mẹ ruột. Mặc dù, sau đó vợ chồng có hàn gắn tình cảm nhưng chỉ chung sống được 05 tháng thì tiếp tục mâu thuẫn. Ông T và bà M không còn sống chung từ giữa năm 2018 cho đến nay. Trong thời gian không còn sống chung thì ông T và bà M không có liên lạc gì với nhau. Từ đó, có thể nhận thấy rằng mối quan hệ vợ chồng của ông T và bà M hoàn toàn không còn, hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Như vậy, xét thấy yêu cầu ly hôn của ông T là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình: “Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được” và cũng phù hợp với đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát, nên chấp nhận cho ông Trần Văn T được ly hôn với bà Phạm Thị Thúy M.

Về việc nuôi con chung: Ông Trần Văn T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Trần Thị Kim N, sinh ngày 28 tháng 8 năm 2016, Hội đồng xét xử xét thấy hiên nay cháu N đang do ông T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, đồng thời cháu N trình bày có nguyện vọng được sống với cha, vì vậy để ổn định cuộc sống của cháu, Hội đồng xét xử chấp nhận cho ông T tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung, bà M không phải cấp dưỡng nuôi con do ông T không có yêu cầu và cũng phù hợp với đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát.

Về tài sản chung và nợ chung: Ông Trần Văn T cho rằng không có, nên không yêu cầu giải quyết, còn bà Phạm Thị Thúy M không gửi văn bản ghi ý kiến của mình để Tòa án xem xét, nên Hội đồng xét xử không đề cập đến giải quyết.

Về án phí sơ thẩm: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án để buộc nguyên đơn phải chịu tiền án phí sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 5, khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn T. Cho ông Trần Văn T được ly hôn với bà Phạm Thị Thúy M.

2. Về nuôi con chung:

2.1. Ông Trần Văn T được tiếp tục chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung Trần Thị Kim N, sinh ngày 28 tháng 8 năm 2016.

2.2. Bà Phạm Thị Thúy M không phải cấp dưỡng nuôi con.

2.3. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

3. Về án phí sơ thẩm: Ông Trần Văn T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) được trừ đi tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án 0005854 ngày 24 tháng 10 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp, ông T không phải nộp thêm.

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ