vanban.org

Bản án 106/2025/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng C về việc yêu cầu chấm dứt trước thời hạn hợp đồng vay số 6600000719237147 ngày 20/11/2020 với ông Nguyễn Thanh X và bà Nguyễn Thị A.

Buộc ông Nguyễn Thanh X và bà Nguyễn Thị A có nghĩa vụ liên đới trả cho Ngân hàng C tiền vốn và lãi tính đến ngày 29/8/2025 là 51.636.003 đồng (năm mươi mốt triệu, sáu trăm ba mươi sáu nghìn, không trăm lẻ ba đồng), trong đó nợ gốc là 38.000.000 đồng, tiền lãi là 13.636.003 đồng. Thực hiện khi án có… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Ngân hàng C - Nguyễn Thanh X, Nguyễn Thị A"
  • Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng C về việc yêu cầu chấm dứt trước thời hạn hợp đồng vay số 6600000719237147 ngày 20/11/2020 với ông Nguyễn Thanh X và bà Nguyễn Thị A.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 2 – ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 106/2025/DS-ST
Ngày: 29/8/2025
Về “tranh chấp hợp đồng vay tài
sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 – ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Văn Lắm;

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Ngô Văn Bi;

2. Ông Lê Thành Thạnh Tiến;

- Thư ký phiên tòa: Ông Đào Tuấn Đạt – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2 – Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Đồng Tháp: Không tham gia.

Ngày 29 tháng 8 năm 2025 tại trụ sở 4 Tòa án nhân dân khu vực 2 – Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 32/2025/TLST-DS ngày 03 tháng 3 năm 2025 về tranh chấp “hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 89/2025/QĐXXST-DS ngày 22 tháng 7 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 108/2025/QĐST-DS ngày 12 tháng 8 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng C.

Địa chỉ: số 169, phố L, phường H, quận H, Thành phố Hà Nội (nay là số 169, phố L, Phường Đ, Thành phố Hà Nội);

Người đại diện theo pháp luật: Ông Dương Quyết T – Chức vụ: Tổng Giám đốc;

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn Q – chức vụ Giám đốc Phòng Giao dịch Ngân hàng C G (theo Quyết định ủy quyền số 7300/QĐ-NHCS ngày 19/9/2019);

Người đại diện ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Nguyễn Phạm H – chức

- 2 -

vụ Phó Giám đốc Phòng Giao dịch Ngân hàng C G (theo Giấy ủy quyền số 44/UQ-PGD ngày 31/3/2025);

Địa chỉ: đường N, khu phố N, thị trấn V, huyện G, tỉnh Tiền Giang (nay là khu phố N, xã V, tỉnh Đồng Tháp);

- Bị đơn: 1. Ông Nguyễn Thanh X – sinh năm 1976;

2. Bà Nguyễn Thị A – sinh năm 1981;

Cùng địa chỉ: ấp T, xã P, huyện T, tỉnh Tiền Giang (nay là ấp T, xã T,

tỉnh Đồng Tháp);

(Ông H có mặt; ông X và bà A vắng mặt không lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Quá trình tố tụng đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Ngày 20/11/2020, Phòng Giao dịch Ngân hàng C huyện G (gọi tắt là

Ngân hàng) có phê duyệt cho hộ ông Nguyễn Thanh X vay số tiền 38.000.000 đồng theo hợp đồng vay số 6600000719237147, lãi suất 9%/năm, mục đích vay để chăn nuôi bò sinh sản thuộc Chương trình cho vay Hộ gia đình sản xuất kinh doanh tại vùng khó khăn; thời hạn vay 58 tháng, thời hạn trả nợ cuối cùng vào ngày 20/9/2025. Theo hợp đồng, thỏa thuận 12 tháng trả nợ gốc 01 lần là 7.600.000 đồng, tiền lãi trả hàng tháng kể từ ngày 20/12/2020; nhưng quá trình thực hiện hợp đồng vay hộ ông Nguyễn Thanh X không thực hiện trả vốn gốc và lãi đúng kỳ cho Ngân hàng theo hợp đồng đã thỏa thuận. Nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu chấm dứt hợp đồng vay số 6600000719237147 ngày 20/11/2020 với hộ ông Nguyễn Thanh X. Yêu cầu hộ ông X gồm ông Nguyễn Thanh X và bà Nguyễn Thị A có nghĩa vụ liên đới hoàn trả khoản nợ gốc của hợp đồng là 38.000.000 đồng và tiền lãi tạm tính đến ngày 26/02/2025 là 12.460.000 đồng; yêu cầu trả làm một lần khi án có hiệu lực pháp luật và yêu cầu tiếp tục tính lãi theo thỏa thuận trong hợp đồng đến khi hộ ông X trả hoàn tất nợ cho Ngân hàng. * Bị đơn ông Nguyễn Thanh X và bà Nguyễn Thị A đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng nhưng ông X và bà A không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng. * Tại phiên tòa:

- Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Phạm H giữ nguyên yêu cầu khởi kiện là yêu cầu chấm dứt hợp đồng vay số 6600000719237147 ngày 20/11/2020 với hộ ông Nguyễn Thanh X. Yêu cầu hộ ông X gồm ông

- 3 -

Nguyễn Thanh X và bà Nguyễn Thị A có nghĩa vụ liên đới hoàn trả khoản nợ gốc của hợp đồng là 38.000.000 đồng và tiền lãi tính đến ngày hôm nay 29/8/2025 là 13.636.003 đồng; yêu cầu trả làm một lần khi án có hiệu lực pháp luật và yêu cầu tiếp tục tính lãi theo thỏa thuận trong hợp đồng sau ngày Tòa xét xử là ngày 30/8/2025 đến khi hộ ông X trả hoàn tất nợ cho Ngân hàng.

- Bị đơn ông Nguyễn Thanh X và bà Nguyễn Thị A vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Bị đơn ông Nguyễn Thanh X và bà Nguyễn Thị A đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để dự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, phiên tòa dân sự sơ thẩm nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt đối với các bị đơn Nguyễn Thanh X, Nguyễn Thị A.

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Ngân hàng khởi kiện yêu cầu hộ ông Nguyễn Thanh X trả số tiền vốn, tiền lãi theo hợp đồng vay đã ký kết nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp là tranh chấp “hợp đồng vay tài sản” quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn cư trú tại xã T, tỉnh Đồng Tháp, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 2 – Đồng Tháp theo quy định tại Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Ông Nguyễn Thanh X đại diện hộ gia đình gồm ông X và bà Nguyễn Thị A mở sổ vay vốn và ký hợp đồng vay là Giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn vay vào ngày 09/11/2020 với mã món vay số 6600000719237147 ngày 20/11/2020 để vay số tiền 38.000.000 đồng, lãi suất 9%/năm, mục đích vay chăn nuôi bò sinh sản thuộc Chương trình cho vay Hộ gia đình sản xuất kinh doanh tại vùng khó khăn, thời hạn vay 58 tháng, thỏa thuận 12 tháng trả nợ gốc 01 lần là 7.600.000 đồng, tiền lãi trả hàng tháng kể từ ngày 20/12/2020. Hợp đồng này do nguyên đơn và bị đơn cùng thống nhất thỏa thuận ký kết bởi những người có thẩm quyền, có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, tự nguyện khi giao kết hợp đồng, hình thức và nội dung hợp đồng không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội, phù hợp với quy định tại Điều 5 về Phạm vi cho vay của Điều lệ về tổ chức và hoạt động của Ngân hàng. Nên xác định

- 4 -

hợp đồng vay này hợp pháp, là căn cứ pháp lý để các bên phải thực hiện trách nhiệm theo cam kết. [3.2] Ngày 20/11/2020 hộ ông X được giải ngân số tiền vay 38.000.000 đồng, ông X đã nhận đủ số tiền vay của hợp đồng là 38.000.000 đồng, nhưng quá trình thực hiện hợp đồng vay hộ ông X không thực hiện trả vốn, lãi đúng kỳ cho Ngân hàng theo thỏa thuận là vi phạm thỏa thuận tại điểm c, tiểu mục 3.2, mục 3 về quyền và nghĩa vụ của người vay tại sổ vay vốn của Ngân hàng. Do đó, đại diện Ngân hàng yêu cầu chấm dứt hợp đồng vay trước thời hạn là có cơ sở, nên được chấp nhận. [3.3] Tại Giấy ủy quyền ngày 09/11/2020, bà Nguyễn Thị A đã ủy quyền cho ông Nguyễn Thanh X đại diện hộ gia đình đứng ra ký hợp đồng vay vốn của Ngân hàng với tổng số vốn gốc là 38.000.000 đồng. Giấy ủy quyền đã được Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Tiền Giang chứng thực, nên xác định việc bà A ủy quyền cho ông Nguyễn Thanh X đại diện hộ gia đình ký hợp đồng vay vốn của Ngân hàng C G là có thật. Như vậy, những người ủy quyền phải cùng với người được ủy quyền phải chịu trách nhiệm về số nợ theo các hợp đồng vay mà người đại diện ủy quyền đã ký kết với Ngân hàng.

Ngân hàng yêu cầu ông X, bà A trả số tiền nợ gốc và lãi tính đến

ngày xét xử 29/8/2025 là 13.636.003 đồng, đồng thời yêu cầu ông X, bà A tiếp tục thanh toán số tiền lãi phát sinh từ sau ngày xét xử, tức là từ ngày 30/8/2025 đến khi hết nợ theo sổ vay vốn và sổ lưu tờ rời với mã món vay số 6600000719237147 ngày 20/11/2020 là phù hợp quy định Điều 463, Điều 466 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự, nên Hội đồng xét xử chấp nhận. [4] Về thời hạn thực hiện nghĩa vụ: Ngân hàng yêu cầu ông X, bà A có nghĩa vụ liên đới trả hết số tiền gốc 38.000.000 đồng và lãi tính đến ngày 29/8/2025 là 13.636.003 đồng, tổng cộng là 51.636.003 đồng, trả làm một lần khi án có hiệu lực pháp luật. Xét việc bị đơn ông Nguyễn Thanh X và bà Nguyễn Thị A vắng mặt không thỏa thuận được thời hạn thực hiện nghĩa vụ, nên cần buộc bị đơn thực hiện nghĩa vụ cho nguyên đơn khi án có hiệu lực pháp luật; phương thức và thời gian thực hiện nghĩa vụ được thực hiện theo quy định của Luật Thi hành án dân sự. [5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận; nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. [6] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật. Vì các lẽ trên,

- 5 -

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Căn cứ vào Điều 463, Điều 466, Điều 468 Bộ luật dân sự.

- Căn cứ khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng C về việc yêu cầu chấm dứt trước thời hạn hợp đồng vay số 6600000719237147 ngày 20/11/2020 với ông Nguyễn Thanh X và bà Nguyễn Thị A.

1. Buộc ông Nguyễn Thanh X và bà Nguyễn Thị A có nghĩa vụ liên đới trả cho Ngân hàng C tiền vốn và lãi tính đến ngày 29/8/2025 là 51.636.003 đồng (năm mươi mốt triệu, sáu trăm ba mươi sáu nghìn, không trăm lẻ ba đồng), trong đó nợ gốc là 38.000.000 đồng, tiền lãi là 13.636.003 đồng. Thực hiện khi án có hiệu lực pháp luật.

2. Kể từ ngày 30/8/2025 cho đến khi thi hành án xong, ông Nguyễn Thanh X và bà Nguyễn Thị A có nghĩa vụ liên đới tiếp tục trả lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất đã thỏa thuận theo hợp đồng vay số 6600000719237147 ngày 20/11/2020.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm: ông Nguyễn Thanh X và bà Nguyễn Thị A phải chịu 2.581.800 đồng (hai triệu, năm trăm tám mươi mốt nghìn, tám trăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

- 6 -

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ