- Tranh chấp gì? Tranh chấp về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp — án lao động — "Lao động"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lý Thị Đ về việc Tranh chấp hợp đồng lao động với bị đơn Công ty TNHH K (Việt Nam) Footwear.
- Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 117 Bộ luật Dân sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƯƠNG Bản án số: 106/2024/LĐ-ST Ngày: 19 - 7 - 2024 V/v: “Tranh chấp về hợp đồng lao động”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Thiệu Văn Kết Em
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Kim Thu;
2. Bà Phạm Thị Thu Yến.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Phạm Thanh Trang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Bà Mai Thị Năm - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 7 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án lao động thụ lý số 130/2024/TLST-LĐ ngày 15 tháng 5 năm 2024 về việc: “Tranh chấp về hợp đồng lao động”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 76/2024/QĐXXST-LĐ ngày 28 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lý Thị Đ, sinh năm 1992; địa chỉ: Khóm T, phường B, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng.
Người đại diện hợp pháp: Bà Cao Thị Thùy D, sinh năm 2001; địa chỉ: A C, khu phố G, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương hoặc bà Nguyễn Thị Yến N, sinh năm 1999; địa chỉ: Số C, tổ B, ấp D, xã H, huyện B, tỉnh Bình Dương (theo hợp đồng ủy quyền ngày 19/02/2024), có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Bị đơn: Công ty TNHH K (Việt Nam) Footwear; địa chỉ: Số A, V đường số C, Khu công nghiệp V - Singapore, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện hợp pháp: Ông Chen Fu Y, sinh năm 1969; địa chỉ: Công ty TNHH K (Việt Nam) Footwear; địa chỉ: Số A, V đường số C, Khu công nghiệp V - Singapore, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương (theo văn bản ủy quyền ngày 16/4/2024), có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bảo hiểm xã hội thành phố T, địa chỉ: Đường N, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương, có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện ngày 20/02/2024, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án người đại diện hợp pháp của nguyên đơn bà Cao Thị Thùy D, trình bày:
Bà Lý Thị Đ tham gia bảo hiểm xã hội từ tháng 12/2010 đến tháng 12/2018, làm việc tại nhiều công ty khác nhau. Ngày 19/02/2024 bà Đ đến Bảo hiểm xã hội tỉnh Bình Dương để xin nhận tiền Bảo hiểm xã hội một lần thì được thông báo về việc người lao động mượn hồ sơ của người khác để giao kết hợp đồng lao động và yêu cầu bà Đ thực hiện theo quy định của pháp luật. Từ trước đến nay bà Đ không ký kết hợp đồng lao động và cũng không làm việc tại Công ty TNHH K (Việt Nam) Footwear.
Quá trình giải quyết vụ án, sau khi được Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương cho tiếp cận các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thì bà Đ mới biết được công ty đã đóng bảo hiểm xã hội cho bà số 7412110866 bao gồm: tháng 04/2012 (thời gian làm việc vào tháng 04/2012 đến tháng 07/2012); tháng 08/2012 (thời gian làm việc vào tháng 08/2012 đến tháng 12/2012); tháng 01/2013 (thời gian làm việc vào tháng 01/2013 đến tháng 02/2013); tháng 03/2014 (thời gian làm việc vào tháng 03/2013 đến tháng 12/2013); tháng 01/2014 (thời gian làm việc vào tháng 01/2014 đến tháng 02/2014).
Bà Lý Thị Đ hoàn toàn không quen biết, không có mối quan hệ bạn bè, gia đình, bà con họ hàng gì với người có tên là Nguyễn Thị Yến N. Từ trước đến nay, bà Lý Thị Đ không có cho ai sử dụng, mượn hồ sơ, thông tin cá để đi làm, kể cả người có tên Nguyễn Thị Yến N. Việc bà N sử dụng thông tin của bà Đ để giao kết hợp đồng lao động là không đúng với quy định của pháp luật, có hành vi gian dối, trái với nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác và trung thực.
Nay bà Đ yêu cầu Toà án giải quyết: Tuyên hợp đồng lao động được ký giữa bà (Lý Thị Đ) với công ty TNHH K (Việt Nam) FOOTWEAR là vô hiệu, đồng thời có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Người đại diện hợp pháp của bị đơn Công ty TNHH K (Việt Nam) F1 trình bày: Đồng ý với yêu cầu của bà Lý Thị Đ tuyên hợp đồng lao động ký kết giữa người lao động có tên Lý Thị Đ (do bà Nguyễn Thị Yến N là người ký kết) với người sử dụng lao động là Công ty TNHH K (Việt Nam) Footwear là vô hiệu toàn bộ, đồng thời có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bảo hiểm xã hội thành phố T trình bày: Công ty TNHH K (Việt Nam) Footwear có đóng Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế, Bảo hiểm thất nghiệp, Bảo hiểm tai nạn lao động – Bệnh nghề nghiệp cho bà Lý Thị Đ, sinh năm 1992, số căn cước công dân xxxxxxxxxxxx, mã số Bảo hiểm xã hội 7412110866 từ tháng 04 năm 2012 đến tháng 02 năm 2014, đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định pháp luật và có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An:
+ Về tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử đều bảo đảm đúng quy định về thời hạn, nội dung, thẩm quyền của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với việc xét xử sơ thẩm vụ án. Các đương sự chấp hành đúng pháp luật tố tụng.
+ Về nội dung: Căn cứ Điều 50, 51 Bộ luật Lao động năm 2019; Điều 127; Điều 131 của Bộ luật dân sự; Áp dụng Điểm a khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc tranh chấp hợp đồng lao động.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ tranh chấp: Bà Lý Thị Đ khởi kiện Tuyên hợp đồng lao động ký kết giữa người lao động có tên Lý Thị Đ (do bà Nguyễn Thị Yến N là người ký kết) với người sử dụng lao động là Công ty TNHH K (Việt Nam) Footwear từ tháng 04 năm 2012 đến tháng 02 năm 2014 là vô hiệu toàn bộ. Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp về hợp đồng lao động” được quy định tại khoản 1 Điều 32 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn Công ty TNHH K (Việt Nam) Footwear có địa chỉ trụ sở Số A, V đường số C, Khu công nghiệp V - Singapore, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thuận An.
Về việc xét xử vắng mặt đương sự: Quá trình thụ lý giải quyết vụ án người đại diện hợp pháp của nguyên đơn; người đại diện hợp pháp của bị đơn; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bảo hiểm thành phố T có yêu cầu giải quyết vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt các đương sự.
Các bên không cung cấp được tài liệu, chứng cứ là Hợp đồng lao động giữa Công ty TNHH K (Việt Nam) Footwear và bà Nguyễn Thị Yến N. Tuy nhiên, tất cả các đương sự đều thống nhất có việc giao kết hợp đồng. Sự thừa nhận của các đương sự là tình tiết không phải không phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự. Căn cứ vào trình bày của các đương sự, Hội đồng xét xử xét thấy bà Nguyễn Thị Yến N dùng nhân thân của bà Lý Thị Đ để ký kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH K (Việt Nam) Footwear từ tháng 04 năm 2012 đến tháng 02 năm 2014, được công ty tham gia BHXH được thể hiện đầy đủ tại sổ bảo hiểm xã hội sổ số: 7412110866. Bà Lý Thị Đ tham gia giao kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH M từ tháng 04/2017 đến tháng 06/2024; tham gia giao kết hợp đồng lao động với Công ty Cổ phần M1 từ tháng 12/2010 đến tháng 02/2012; tham gia tham gia giao kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH C từ tháng 05/2013 đến tháng 12/2016. Qua tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và thông tin Bảo hiểm xã hội có cơ sở xác định: Việc bà N sử dụng thông tin trong hồ sơ cá nhân của bà Đ để giao kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH K (Việt Nam) Footwear là không đúng chủ thể xác lập giao dịch dân sự, vi phạm nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, hợp tác, tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của nhau khi xác lập quan hệ lao động được quy định tại Điều 17 Bộ luật Lao động năm 1994 (Điều 15 Bộ luật Lao động năm 2019). Vì vậy, căn cứ quy định tại Điều 132 Bộ luật Dân sự năm 2005 (Điều 127 Bộ luật dân sự năm 2015) xét thấy, yêu cầu tuyên vô hiệu hợp đồng lao động người lao động tên Lý Thị Đ và Công ty TNHH K (Việt Nam) Footwear từ tháng 04 năm 2012 đến tháng 02 năm 2014 là có cơ sở chấp nhận. Do đương sự chỉ yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu và không có yêu cầu giải quyết về hậu quả của hợp đồng vô hiệu nên Hội đồng xét xử không xem xét. [5] Đối với bà Nguyễn Thị Yến N, bà Đ xác định hoàn toàn không quen biết, không có mối quan hệ bạn bè, gia đình, bà con họ hàng gì với người có tên là Nguyễn Thị Yến N. Mặt khác. từ trước đến nay, bà Lý Thị Đ không cho ai sử dụng, mượn hồ sơ, thông tin cá nhân để đi làm, kể cả người có tên Nguyễn Thị Yến N nên không thể cung cấp thông tin cho Tòa án để đưa vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Đối với quyền lợi của bà Nguyễn Thị Yến N do hiện nay không xác định được thông tin liên quan với bà N và không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Bà Lý Thị Đ tự nguyện chịu tiền án phí lao động sơ thẩm.
Do bà Đ tự nguyện chịu tiền án phí lao động sơ thẩm nên Công ty TNHH K (Việt Nam) F không phải chịu án phí lao động sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
Khoản 1 Điều 32, điểm c khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 235, Điều 238, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Các Điều 122, 132, 137 Bộ luật dân sự năm 2005 (Các Điều 117, 122, 127; 131 của Bộ luật dân sự);
Các Điều 17, 50, 51 và Điều 52 Bộ luật Lao động năm 1994 (các Điều 15, 49, 50 và Điều 51 Bộ luật Lao động năm 2019);
Áp dụng Điểm a khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lý Thị Đ về việc Tranh chấp hợp đồng lao động với bị đơn Công ty TNHH K (Việt Nam) Footwear.
2. Tuyên bố Hợp đồng lao động giao kết giữa bà Lý Thị Đ và Công ty TNHH K (Việt Nam) Footwear từ tháng 04 năm 2012 đến tháng 02 năm 2014 bị vô hiệu.
3. Về hậu quả của Hợp đồng lao động vô hiệu: Bảo hiểm xã hội có thẩm quyền thực hiện các chế độ bảo hiểm xã hội đối với bà Lý Thị Đ theo quy định pháp luật.
4. Về án phí: Bà Lý Thị Đ tự nguyện chịu tiền án phí lao động sơ thẩm là 300.000đồng, khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0002019 ngày 13/5/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.
Công ty TNHH K (Việt Nam) F không phải chịu tiền án phí lao động sơ thẩm.
Nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND Tp. Thuận An; - CCTHADS Tp. Thuận An; - Các đương sự; - Lưu: Hồ sơ vụ án, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Thiệu Văn Kết Em |