vanban.org

Bản án 106/2023/HSST — Hình sự

TAND tỉnh Gia Lai Tuyên án 01/11/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: tuyên bố bị cáo Trần Thanh Th phạm tội “Vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng”

Về hình phạt: áp dụng khoản 2 điều 175 Bộ luật Hình sự năm 1999; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015: xử phạt bị cáo Trần Thanh Th 24 (Hai mươi tư) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính tính ngày 15/6/2023. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng h… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Thanh Thuận - phạm tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng (điều 175 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: tuyên bố bị cáo Trần Thanh Th phạm tội “Vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 106/2023/HSST
Ngày 01-11-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI

V i hành phần Hội đồng xé xử sơ hẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Văn Bình

Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Quốc Ngưu

Ông Phan Văn Minh

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Nga, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Cường - Kiểm sát viên trung cấp.

Trong ngày 01/11/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai, công khai xé t xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 109/2023/TLST-HS ngày 06/10/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2023/QĐXXST-HS ngày 18/10/2023 đối với bị cáo sau:

Trần Thanh Th; sinh ngày 08/6/1985 tại B; nơi ĐKHKTT và chỗ ở: thôn Trung S, xã Tây Th, huyện Tây S, tỉnh B; nghề nghiệp: lái xe; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Thanh X, sinh năm 1956 và bà Lương Thị Thu H, sinh năm 1960; gia đình có 3 anh chị em, bị cáo là con thứ 2; có vợ là Lâm Thị Ái V, sinh năm 1991, có 01 con sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: không.

Ngày 14/11/2019 bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Gia Lai khởi tố và truy nã về tội “Vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng”. Bị bắt ngày 15/6/2023, bị tạm giữ, tạm giam đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Gia Lai, có mặt tại phiên tòa

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Lâm Thị Ái V, sinh năm 1991. Địa chỉ: 273 tăng Bạt H, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Có mặt

* Người làm chứng: đều vắng mặt

- Nguyễn Hữu Thuộc, sinh năm 1981. Địa chỉ: 109 Hoàng S, thành phố P, tỉnh Gia Lai

- Hoàng Minh Hiếu, sinh năm 1981. Địa chỉ: làng Doch Ia Krót, xã Ia Krăi, huyện Ia G, tỉnh Gia Lai

- Dương Thiếu Hạ, sinh năm 1988. Địa chỉ: xã Phước A, huyện Tuy Ph, tỉnh B

- Nguyễn Minh Đức, sinh năm 1980. Địa chỉ: tổ 30, phường Mai D, quận Cầu G, thành phố Hà Nội

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Thanh Th là lái xe được Nguyễn Hữu Th thuê làm tài xế điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 81C - 027.09 vận chuyển gỗ trái phép cho Thvới tiền công 1.000.000 đồng/chuyến. Vào sáng ngày 30/9/2016, Thđiện thoại cho Th nói Th điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 81C - 027.09 cùng với phụ xe là Dương Thiếu H đi bốc và vận chuyển gỗ cho Th. Lúc này, Th và H đều đang ở cùng xe ô tô biển kiểm soát 81C - 027.09 tại khu vực Thủy điện Sê San, Th huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai. Sau khi nhận được chỉ đạo của Th, Th điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 81C - 027.09 cùng với Dương Thiếu H đi theo chỉ dẫn của Thtừ huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai đến khu vực lô cao su Thhuyện Ia H’Drai, tỉnh Kon Tum để bốc gỗ. Đến khoảng 14h00’ cùng ngày, Th và H đi đến địa điểm tập kết gỗ trái phép của Thđã thu mua trước đó. Sau đó, có người điều khiển xe cẩu (không rõ nhân thân, lai lịch) đến giúp Th và H cẩu gỗ lên xe. Khi đã cẩu đủ gỗ lên xe, Th gọi điện thoại báo cho Thbiết và được Th chỉ đạo điều khiển xe chở gỗ đi đến khu vực bãi đá (bãi tập kết vật liệu trước đây của công trình Thủy điện Sê San 4, Thhuyện Ia H’Drai, tỉnh Kon Tum) để chờ, khi nào Thđiện thoại báo thì xuất phát.

Đến ngày 04/10/2016, Trần Thanh Th đang ở cùng với Dương Thiếu H thì H được Th chỉ đạo đi cùng với Hoàng Minh Hi là tài xế điều khiển xe ô tô khác của Th(không biển kiểm soát) tiếp tục đi bốc gỗ cho Thvà sau đó cũng đi về tập kết tại khu vực bãi đá cùng với xe biển kiểm soát 81C - 027.09 do Th điều khiển. Ngoài 02 xe của Thuộc, tại khu vực bãi đá còn có 02 xe ô tô chở gỗ cho Nguyễn Mạnh H là xe ô tô biển kiểm soát 81C - 020.04 do lái xe là Nguyễn Minh Đ và xe ô tô biển kiểm soát 81C - 104.17 do lái xe là Lê Trung Ng điều khiển cũng đã bốc gỗ cùng tập kết tại đây.

Ngày 05/10/2016, do có quan hệ quen biết với nhau từ trước và thường liên hệ với nhau để dẫn đường cho các xe vận chuyển gỗ trái phép đi từ huyện Ia H’Drai, tỉnh Kon Tum về tỉnh Gia Lai để tiêu thụ nên Nguyễn Mạnh Hvà Nguyễn Hữu Thđã liên hệ với Nguyễn Mạnh T để cùng nhau tổ chức sắp xếp cho các xe vận chuyển gỗ trái phép của H, Thđi từ huyện Ia H’Drai qua khỏi địa bàn tỉnh Kon Tum về tỉnh Gia Lai để tiêu thụ. T là người chịu trách nhiệm dẫn đường để các xe ô tô chở gỗ trái phép đi qua địa phận huyện Ia H’Drai, tỉnh Kon Tum mà không bị lực lượng chức năng bắt giữ. Sau đó Thsẽ có trách nhiệm đón và dẫn đường cho đoàn xe đi tiếp qua địa bàn huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai. Ngoài ra, Đào Đình Kh và Đinh L cũng liên hệ với T và Thđể nhờ dẫn đường cho xe chở gỗ trái phép chung của Kh và L là xe ô tô biển kiểm soát 77C - 005.83 đi qua địa phận huyện Ia H’Drai, tỉnh Kon Tum và huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai thì được T và Thđồng ý.

Sau khi đã thống nhất phương án, đến khoảng 23h00’ ngày 05/10/2016, T điện thoại cho các chủ xe, chủ gỗ cho các xe vận chuyển gỗ trái phép xuất phát. Nhận được thông báo của T thì Thđã điện thoại chỉ đạo Th và Hcho xe chở gỗ xuất phát, Hvà Kh cũng liên lạc với các tài xế của mình cho xe xuất phát. Lúc này, các xe ô tô biển kiểm soát 81C - 027.09 do Trần Thanh Th điều khiển, xe ô tô biển kiểm soát 81C - 020.04 do Nguyễn Minh Đ điều khiển và xe ô tô không biển kiểm soát do Hoàng Minh H điều khiển đang cùng tập kết ở khu vực bãi đá bắt đầu xuất phát. Xe ô tô biển kiểm soát 81C - 104.17 do lái xe là Lê Trung Ngđiều khiển cũng từ lô cao su Th huyện Ia H’Drai, tỉnh Kon Tum xuất phát. Xe ô tô biển kiểm soát 77C - 005.83 do lái xe là Lê Minh Đ điều khiển cũng từ khu vực đường nhánh Th huyện Ia H’Drai, tỉnh Kon Tum bắt đầu xuất phát. Khi đoàn xe đi qua Trạm kiểm soát liên ngành Th khu vực thủy điện Sê San 4, Th huyện Ia H’Drai, tỉnh Kon Tum thì chốt barie đã mở sẵn, các xe đi qua và tiếp tục đi hướng về huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai. Lúc này, T điện thoại báo cho Thvà H biết để Th đón và dẫn đoàn xe đi tiếp.

Khoảng 00h00’ ngày 06/10/2016, Th điều khiển ô tô bán tải biển kiểm soát 81C - 098.65 đi đến cuối làng Cúc, xã Ia O để đón đoàn xe chở gỗ và hướng dẫn cho đoàn xe đi về hướng xã Ia Chía, huyện Ia Grai. Khi đoàn xe đi đến khu vực Thxã Ia O thì xe ô tô biển kiểm soát 81C - 020.47 chở gỗ của Nguyễn Văn T, lái xe là Nguyễn Văn Đ đi chung vào với đoàn xe.

Đến khoảng 01 giờ 30 phút ngày 06/10/2016, khi đoàn xe đi đến đoạn đường Thđịa phận làng Kom Ngó, xã Ia Chía, huyện Ia Grai thì bị Tổ tuần tra ThĐồn biên phòng Ia Chía phát hiện kiểm tra. Lúc này, Thđang đi phía sau xe ô tô tải biển kiểm soát 77C - 005.83 thì được Th điện thoại báo đoàn xe chở gỗ đã bị bắt nên Thchạy xe lên phía trước và nói lái xe biển kiểm soát 77C - 005.83 là Lê Minh Đdừng lại rồi tiếp tục chạy đến đoạn đường Thđịa bàn xã Ia Chía thì thấy 05 xe ô tô chở gỗ đã bị lực lượng Đồn Biên phòng Ia Chía và Công an xã Ia Chía bắt giữ. Các xe nối đuôi nhau gồm xe biển kiểm soát 81C - 104.17 (lái xe Lê Trung Ng) đến xe biển kiểm soát 81C - 020.47 (lái xe là Nguyễn Văn Đ) đến xe biển kiểm soát 81C - 027.09 (lái xe là Trần Thanh Th) đến xe biển kiểm soát 81C - 020.04 (lái xe là Nguyễn Minh Đ), cuối cùng là xe ô tô không biển kiểm soát lái xe là Hoàng Minh H, phụ xe là Dương Thiếu H. Thđiện thoại cho H và T biết đoàn xe chở gỗ đã bị bắt và đề nghị đến giải quyết. Khoảng 01 giờ sau thì H đi xe ô tô đến hiện trường và cùng Thđến gặp lực lượng chức năng để xin cho các xe đi qua nhưng không được giải quyết. Lúc này, tài xế Nguyễn Văn Đ lên xe ô tô biển kiểm soát 81C - 020.47 nổ máy chạy và va chạm với xe ô tô biển kiểm soát 81C - 104.17 đang dừng phía trước, đồng thời tông vào 03 xe gắn máy của lực lượng bắt giữ. Đ điều khiển xe bỏ chạy được 200 m thì do xe rớt bình xăng nên bị tắt máy, Đ bỏ xe chở gỗ lại và trốn vào rừng cao su. Tài xế Nguyễn Minh Đ lên xe biển kiểm soát 81C - 020.04 nổ máy, lùi xe, quay đầu bỏ chạy vào lô cao su cách hiện trường 02 km, do đường lô cao su không thể đi tiếp nên xe ô tô bị bắt giữ. Xe ô tô biển kiểm soát 77C - 005.83 do tài xế Lê Minh Đ điều khiển do chưa vào khu vực hiện trường nên bỏ chạy đến khu vực xã Ia O, huyện Ia Grai thì bị lực lượng Đồn Biên phòng Ia O phát hiện bắt giữ, Lê Minh Đ bỏ xe chạy trốn. Xe ô tô do Trần Thanh Th điều khiển do ở giữa không bỏ chạy được nên Th sau khi tháo biển kiểm soát đã bỏ xe lại tại hiện trường rồi chạy vào khu vực lô cao su vứt biển kiểm soát xe ở đây và được Thđón chở về. Hoàng Minh H và Dương Thiếu H lên xe quay đầu bỏ chạy và được Thdẫn đường chạy thoát đến đổ gỗ tại xưởng gỗ Thlàng Lân, xã Ia O, huyện Ia Grai của anh Phạm Đậu (tên gọi khác là Út Quảng Nam; sinh năm: 1968; trú tại: Làng Tung Breng, xã Ia Krăi, huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai). Đến trưa ngày 06/10/2016, Thđã bán số gỗ này cho anh Cao Xuân T (sinh năm: 1974; trú tại: Thôn 3, xã Ia Krăi, huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai) với giá 21.000.000 đồng. Số lượng gỗ của 05 xe ô tô vận chuyển gỗ trái phép cụ thể như sau:

- Xe ô tô biển kiểm soát 81C - 104.17, do Lê Trung Ng điều khiển chở gỗ cho Nguyễn Mạnh H, trong thùng xe chở 01 lóng gỗ tròn, chủng loại Gõ, nhóm 1, khối lượng 0,747 m3; 10 hộp gỗ xẻ, chủng loại Gõ, nhóm 1, khối lượng 7,592 m3. Tổng cộng 8,339 m3, quy tròn 12,894 m3.

- Xe ô tô tải biển kiểm soát 81C - 027.09, do Trần Thanh Th điều khiển chở gỗ cho Nguyễn Hữu Th, trên thùng xe có chở 48 hộp gỗ xẻ, chủng loại Kền Kền, Dầu Nước, Bằng Lăng, Sao Cát, Sến Bô Bô, SP 5, nhóm 2 đến nhóm 5, khối lượng 24,635 m3, quy tròn 39,416 m3.

- Xe ô tô biển kiểm soát 81C - 020.04, do Nguyễn Minh Đ điều khiển chở gỗ cho Nguyễn Mạnh H, trên thùng xe có chở 01 lóng gỗ tròn, chủng loại Kền Kền, nhóm 2, khối lượng 0,690 m3; 34 hộp gỗ xẻ, chủng loại Kền Kền, Dầu Nước, Chò, Bình Linh, Bằng Lăng, nhóm 2, 3, 5, khối lượng 20,933 m3. Tổng cộng 21,623 m3, quy tròn 34,182 m3.

- Xe ô tô biển kiểm soát 77C - 005.83, do Lê Minh Đ điều khiển chở gỗ cho Đào Đình Kh và Đinh Lê L, trên thùng xe có chở 70 hộp gỗ xẻ, chủng loại Bằng Lăng, nhóm 3, khối lượng 12,379 m3, quy tròn 19,806 m3.

- Xe ô tô không biển kiểm soát do Hoàng Minh H điều khiển, Dương Thiếu Hphụ xe chở gỗ cho Nguyễn Hữu Th, trên thùng xe có chở 05 m3 gỗ xẻ hộp, chủng loại Bằng Lăng, nhóm 3.

Tổng cộng: 111,298 m3 gỗ các loại.

* Vật chứng: Các vật chứng thu giữ, tạm giữ trong quá trình bắt giữ và điều tra vụ án đã được Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai và Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tuyên xử lý tại Bản án số 18/2020/HS-ST ngày 21/5/2020 và Bản án số 99/2021/HS-PT ngày 25/11/2021.

Trần Thanh Th thông qua vợ là chị Lâm Thị Ái V nộp số tiền 2.000.000 đồng là tiền thu lợi bất chính được trả khi tham gia vận chuyển gỗ trái phép.

Quá trình bắt truy nã, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Gia Lai tạm giữ của bị can Trần Thanh Th 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu đen và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu xanh đen.

Tại Cáo trạng số 156/CT-VKSGL-P1 ngày 05/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai, truy tố bị cáo Trần Thanh Th về tội “Vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng” theo khoản 2 Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 1999

2. Diễn biến tại phiên tòa:

* Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố; lời nói sau cùng, bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt

* Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị như sau: tuyên bố bị cáo Trần Thanh Th phạm tội “Vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng” theo khoản 2 Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 1999

Áp dụng khoản 2 Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 1999; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015: xử phạt bị cáo Trần Thanh Th từ 30 tháng đến 36 tháng tù.

Về xử lý vật chứng: trả cho bị cáo 02 điện thoại di động thu giữ của bị cáo, trả cho chị Lâm Thị Ái Vân số tiền 2.000.000 đồng

Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Hoạt động của các cơ quan và người tiến hành tố tụng trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố vụ án đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng hình sự; các tài liệu, chứng cứ thu thập được có tại hồ sơ vụ án là hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Trần Thanh Th được Nguyễn Hữu Ththuê lái xe ô tô vận chuyển gỗ trái phép đi từ huyện Ia H’Drai, tỉnh Kon Tum về huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai. Quá trình vận chuyển, Thuận đã liên lạc với các lái xe khác do Nguyễn Mạnh H, Nguyễn Hữu Th, Đinh Lê L và Đào Đình Kh thuê là Nguyễn Minh Đ, Lê Minh Đ, Hoàng Minh H, Lê Trung Ng và phụ xe Dương Thiếu H để cùng đi chung đoàn, chịu sự chỉ đạo, thống nhất về việc vận chuyển gỗ cho các chủ gỗ, việc dẫn đường cho các xe ô tô chở gỗ trái phép do Nguyễn Mạnh T và Nguyễn Hữu Thtổ chức, sắp xếp, chịu trách nhiệm. Khi đoàn xe ô tô vận chuyển gỗ trái phép đi đến khu vực xã Ia O, huyện Ia Grai thì bị lực lượng Đồn Biên phòng Ia O phát hiện bắt giữ. Tổng số gỗ vận chuyển trái phép bị bắt giữ là 111,298 m3 gỗ các loại.

Tại khoản 2 Điều 7, Điều 22 Nghị định 157/2013/NĐ-CP ngày 11/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về quản lý rừng, phát triển rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản; và mục 1.6 phần IV Thông tư 19/2007/TTLT-BNN-BTP-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 8/3/2007 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, hướng dẫn áp dụng một số điều của Bộ luật Hình sự về các tội phạm trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản, thì hành vi vận chuyển trái phép từ hai loại gỗ trở lên mà tổng khối lượng gỗ trong vụ vi phạm từ trên bốn lần mức tối đa bị xử phạt vi phạm hành chính đối với số gỗ thông thường Thnhóm IV đến nhóm VIII quy định cho hành vi tương ứng đó của bị cáo Thtrường hợp xử lý hình sự và đối chiếu quy định của Bộ luật Hình sự là “phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng”. (Mức tối đa xử phạt vi phạm hành chính là 20m3, tổng số gỗ các bị cáo vận chuyển là 111,298m3)

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai truy tố bị cáo Trần Thanh Th phạm tội “Vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng” theo quy định tại khoản 2 Điều 175 BLHS năm 1999 là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, thấy rằng: bị cáo là người được thuê để vận chuyển gỗ, biết xe ô tô chở gỗ do mình điều khiển không được cơ quan có thẩm quyền cho phép, là xe chở gỗ trái phép nhưng vẫn tham gia vào đoàn xe vận chuyển, chịu sự chỉ đạo của các chủ xe, khi bị phát hiện bắt giữ thì đã cùng các đồng phạm khác có hành vi chống đối lực lượng chức năng là cùng tháo biển số, đục phá số khung, số máy, bỏ chạy nên phải chịu trách nhiệm hình sự với vai trò đồng phạm là người thực hành trong vụ án. Hành vi phạm tội của bị cáo xâm phạm quy định của Nhà nước về khai thác và bảo vệ rừng, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự nên phải chịu mức án trong khung hình phạt tương xứng hành vi phạm tội.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo ăn năn hối cải, thành khẩn khai báo; hoàn cảnh gia đình khó khăn, bị cáo là lao động chính; ông nội là Liệt sĩ, được nhà nước tặng thưởng Huy chương chống Mỹ cứu nước hạng hai, Huân chương kháng chiến hạng ba, nên bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng.

Về hình phạt: xét bị cáo phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có thái độ thành khẩn khai báo, nhân thân tốt; trong vụ án này, bị cáo chỉ là người làm thuê cho các chủ gỗ, nên căn cứ quy định của Bộ luật hình sự về chế định hình phạt đối với đồng phạm, cân đối hình phạt đã xử lý đối với các chủ gỗ trong vụ án, Hội đồng xét xử sẽ xử phạt bị cáo mức án phù hợp.

Về xử lý vật chứng: Đối với số tiền 2.000.000 đồng là tiền thu lợi bất chính của các lần vận chuyển trước, không liên quan hành vi phạm tội trong vụ án này, nên trả cho chị Lâm Thị Ái V; đối với 02 điện thoại thu giữ của bị cáo, không liên quan hành vi phạm tội, là tài sản của bị cáo nên trả lại cho bị cáo.

Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.

Về các vấn đề khác:

Trần Thanh Th khai nhận trước đó có tham gia lái xe vận chuyển gỗ trái phép 02 lần cho Nguyễn Hữu Thkhông bị lực lượng chức năng phát hiện và được Nguyễn Hữu Thtrả 2.000.000 đồng tiền công. Quá trình điều tra, ngoài lời khai của bị can không còn tài liệu, chứng cứ gì khác nên không có căn cứ để xử lý.

Quá trình bỏ trốn, Thuận xin vào làm lái xe tại xưởng sản xuất dăm gỗ của ông Dương Văn Ngh. Ông Ngh không biết việc Thuận đang bị truy nã. Do đó, không có căn cứ để xử lý đối với ông Dương Văn Ngh về hành vi không tố giác tội phạm và che giấu tội phạm.

Các đối tượng Nguyễn Mạnh T, Nguyễn Hữu Th, Nguyễn Mạnh H, Đào Đình Kh, Đinh Lê L, Hoàng Minh H, Lê Trung Ng, Dương Thiếu H, Lê Minh Đ và Nguyễn Minh Đ đã được Tòa án hai cấp xét xử sơ thẩm và phúc thẩm, vật chứng và các vấn đề liên quan khác đã xử lý theo quy định của pháp luật nên không đề cập đến là đúng quy định.

Vì các lẽ rên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: tuyên bố bị cáo Trần Thanh Th phạm tội “Vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng”

2. Về hình phạt: áp dụng khoản 2 điều 175 Bộ luật Hình sự năm 1999; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015: xử phạt bị cáo Trần Thanh Th 24 (Hai mươi tư) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính tính ngày 15/6/2023.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Trả cho chị Lâm Thị Ái V số tiền 2.000.000 đồng

Trả cho bị cáo Trần Thanh Th 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu đen và 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu xanh đen có đặc điểm mô tả theo biên bản giao nhận vật chứng số 01/2024 ngày 05/10/2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Gia Lai và Cục thi hành án dân sự tỉnh Gia Lai.

4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí lệ, phí Tòa án:

Buộc bị cáo Trần Thanh Th phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung ngân sách nhà nước.

5. Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo yêu cầu xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ