vanban.org

Bản án 106/2023/HSST — Hình sự

TAND Q. Nam Từ Liêm, TP. Hà Nội Tuyên án 18/05/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Bi (Nguyễn Thị By) phạm tội “Xâm phạm chỗ ở của người khác”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Bi (Nguyễn Thị By) 12 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Về dân sự, án phí và quyền kháng cáo. Căn cứ Điều 10 Luật nhà ở, Điều 579 Bộ luật Dân sự; khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333, Điều 337 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 3… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Hành trình vụ án
Sơ thẩm — đang xem Bản án 106/2023/HSST Tuyên án 18/05/2023
Phúc thẩm Bản án 775/2023/HS-PT Tuyên án 13/09/2023

Hành trình ghép tự động từ trích dẫn giữa các bản án đã công bố — có thể chưa đủ mọi giai đoạn của vụ án.

Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị Bi xâm phạm chỗ ở - phạm tội xâm phạm chỗ ở của người khác (điều 158 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Bi (Nguyễn Thị By) phạm tội “Xâm phạm chỗ ở của người khác”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 10 Luật nhà ở
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN NAM TỪ LIÊM
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 106/2023/HSST
Ngày: 18/5/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Chu Thành Công;

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vương Đình Quang;

Ông Phan Minh Tuấn.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Giang - Thư ký Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm tham gia phiên toà: Bà Phạm Thu Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 18/05/2023, tại Trụ sở Toà án nhân dân quận Nam Từ Liêm, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 57/2023/HSST ngày 14 tháng 3 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 85/2023/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 04 năm 2023 và theo Quyết định hoãn phiên toà số 06/2023/HSST-QĐHPT ngày 26 tháng 04 năm 2023 đối với bị cáo:

Nguyễn Thị Bi (Tên gọi khác Nguyễn Thị By), sinh năm 1959; Giới tính: Nữ; Nơi ĐKHKTT: Tổ dân phố số 2, Mễ Trì Thượng, phường Mễ Trì, quận Nam Từ Liêm, Thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 7/10; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông: Nguyễn Khoa Bút (Đã chết); Con bà: Ngô Thị Thân Bé (Đã chết); Họ tên chồng: Nguyễn Đình Độ, sinh năm 1957; Có 3 con, lớn sinh năm 1982, nhỏ sinh năm 1988; Tiền án, tiền sự: Không;

Theo Danh chỉ bản số 61 lập ngày 09/01/2023 tại Công an quận Nam Từ Liêm.

Bị cáo hiện đang tại ngoại- Có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Ông Đào Công Giang, sinh năm 1959; Đăng ký HKTT và trú tại: Tổ 1, phường Xuân Phương, quận Nam Từ Liêm, TP Hà Nội (SĐT: 0913208705); Người đại diện theo uỷ quyền của ông Đào Công Giang: Ông Nguyễn Chí Bình, sinh năm 1982; Địa chỉ: Khu 7 thị trấn Trạm Trôi, huyện Hoài Đức, TP Hà Nội (ĐT 0902260262)- Có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Ông Nguyễn Đình Độ, sinh năm 1957- Vắng mặt;

- Anh Nguyễn Đình An, sinh năm 1988- Có mặt;

- Chị Đào Thị Hương, sinh năm 1991- Vắng mặt;

- Cháu Nguyễn Thị An Bình, sinh năm 2014- Vắng mặt;

- Cháu Nguyễn Đình Tuấn Phong, sinh năm 2017- Vắng mặt.

Đại diện hợp pháp của cháu Nguyễn Thị An Bình và cháu Nguyễn Đình Tuấn Phong là anh Nguyễn Đình An và chị Đào Thị Hương; Cùng địa chỉ: Tổ dân phố số 2 Mễ Trì Thượng, phường Mễ Trì, quận Nam Từ Liêm, TP Hà Nội.

- Chị Nguyễn Bảo Anh, sinh năm 1993; Địa chỉ: Số 54B, ngõ 89 phố Tứ Liên, phường Tứ Liên, quận Tây Hồ, TP. Hà Nội (ĐT 0933619393)- Có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thị Bi (Nguyễn Thị By): Ông Nguyễn Anh Tuấn - Luật sư Công ty Luật TNHH Trường Lộc - Đoàn Luật sư Thành phố Hà Nội- Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Bị cáo Nguyễn Thị Bi bị Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Ngày 26/5/2008, Ủy ban nhân dân huyện Từ Liêm cấp Giấy chứng nhận số AM 301478 cho Nguyễn Thị By (Bi) tại thửa đất số 131(1) tờ bản đồ số 22, diện tích 55,7m2, xã Mễ Trì, huyện Từ Liêm, Hà Nội. Nguyễn Thị Bi cùng gia đình đã sinh sống tại thửa đất trên, nay là địa chỉ: Số nhà 113, TDP số 2, Mễ Trì Thượng, phường Mễ Trì, quận Nam Từ Liêm, TP Hà Nội. Năm 2008, Nguyễn Thị Bi và chồng là Nguyễn Đình Độ thế chấp căn nhà để vay số tiền 2,2 tỷ đồng tại Ngân hàng Sài Gòn Công Thương chi nhánh Ba Đình, Hà Nội. Ông Độ và Nguyễn Thị Bi làm 03 hợp đồng tín dụng và giấy nhận nợ với Ngân hàng:

Hợp đồng thứ nhất vay 200.000.000 đồng, hết hạn trả nợ gốc và lãi ngày 19/10/2012;

Hợp đồng thứ hai vay 200.000.000 đồng, hết hạn trả nợ gốc và lãi ngày 04/3/2013;

Hợp đồng thứ ba vay 1,8 tỷ đồng, hết hạn trả nợ gốc và lãi ngày 03/7/2013. Sau khi hết hạn trả nợ, vợ chồng Nguyễn Thị Bi không thanh toán trả nợ cho Ngân hàng Sài Gòn Công Thương nên ngày 12/10/2013, Ngân hàng đã khởi kiện ra Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm để đòi nợ theo các hợp đồng tín dụng đã ký kết.

Quá trình giải quyết đơn khởi kiện của Ngân hàng Sài Gòn Công Thương, ngày 07/8/2011 Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm đã xét xử ban hành Bản án số 06/2014/KDTM-ST ngày 07/8/2014 chấp nhận đơn khởi kiện yêu cầu đòi nợ tín dụng của Ngân hàng. Sau khi án có hiệu lực pháp luật, ông Phạm Quang Dũng đại diện ủy quyền của Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Công Thương có đơn yêu cầu thi hành án. Ngày 05/5/2015, Chi cục trưởng Chi cục thi hành án dân sự quận Nam Từ Liêm đã ban hành Quyết định thi hành án theo yêu cầu số 549/QĐ-CCTHA, khoản phải thi hành:

Buộc ông Nguyễn Đình Độ, bà Nguyễn Thị Bi phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP Sài Gòn Công thương tổng số tiền là 3.096.063.440đ (Ba tỷ không trăm chín mươi sáu triệu, không trăm sáu mươi ba ngàn, bốn trăm bốn mươi đồng). Nếu ông Độ, bà Bi không trả hoặc trả không đầy đủ thì Ngân hàng công thương có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án tiến hành kê biên phát mại tài sản đảm bảo của các khoản vay nói trên là giá trị quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 131 (1), tờ bản đồ số 22, diện tích 55,7m2, xã Mễ Trì, Từ Liêm, Hà Nội. Quá trình thi hành án, Chấp hành viên Chi cục Thi hành án dân sự quận Nam Từ Liêm đã thực hiện việc đôn đốc, vận động thuyết phục tự nguyện thi hành án nhưng không đạt kết quả. Để giải quyết việc thi hành án, ngày 05/01/2016, Chấp hành viên đã ban hành Quyết định Cưỡng chế số 05/QĐ-CCTHA về việc kê biên quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của ông Nguyễn Đình Độ, Nguyễn Thị Bi; Tài sản kê biên, xử lý là thửa đất số 131 (1), tờ bản đồ số 22, diện tích 55,7m 2 tại xóm 5 Thượng, xã Mễ Trì, huyện Từ Liêm (Nay là nhà đất số 113, tổ dân phố số 2 Mễ Trì Thượng, phường Mễ Trì, quận Nam Từ Liêm, Hà Nội). Sau khi tổ chức kê biên, các bên đương sự không thỏa thuận được, Chấp hành viên tiến hành các trình tự, thủ tục về thẩm định giá, bán đấu giá tài sản theo quy định. Ngày 29/5/2017, Công ty cổ phần đấu giá Toàn Cầu đã tổ chức bán đấu giá thành công, ông Đào Công Giang là người mua trúng đấu giá tài sản với giá 2.041.973.974đ (Hai tỷ không trăm bốn mươi mốt triệu chín trăm bảy mươi ba nghìn chín trăm bảy mươi tư đồng).

Ngày 16/5/2018, Chi cục thi hành án dân sự quận Nam Từ Liêm phối hợp chính quyền địa phương tiến hành cưỡng chế thu hồi nhà đất trên và bàn giao cho ông Đào Công Giang. Thời điểm đó, Nguyễn Thị Bi bị ngất nên được đưa đến Bệnh viện 198 - BCA. Ngay sau khi cưỡng chế xong, ông Giang và cháu là Nguyễn Chí Bình (Sinh năm 1982, HKTT: Trạm Trôi, Hoài Đức, Hà Nội) đã dọn đồ vào ở tại nhà trên. Đến khoảng 14h00 cùng ngày, ông Giang và anh Bình khóa cửa đi ra ngoài có việc riêng thì Nguyễn Thị Bi đi về thấy toàn bộ việc cưỡng chế đã xong, cửa nhà bị khóa bên ngoài, không có chỗ ở nên tìm cách phá khóa cửa vào nhà. Sau đó, Bi đã đi ra khu vực Đình làng thấy có một cái cưa cũ gỉ để ở gốc đa, Bi đã nhặt chiếc cưa, quay về cưa khóa cửa của căn nhà đã bị cưỡng chế, Nguyễn Thị Bi cưa trong khoảng thời gian 02 tiếng thì cắt được khóa cửa và đưa gia đình cùng toàn bộ tài sản quay lại căn nhà để ở. Sau đó, ông Giang đã trình báo Công an quận Nam Từ Liêm.

Ngày 28/9/2018, Sở tài nguyên và môi trường Hà Nội cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CP333018 (Giấy chứng nhận này được cấp lại từ GCN số AM 301478) cho ông Đào Công Giang và vợ là bà Trọng Hải Xuyên đối với nhà đất số 113, tổ dân phố số 2 Mễ Trì Thượng, phường Mễ Trì, quận Nam Từ Liêm, Hà Nội do mua tài sản bán đấu giá theo hợp đồng mua bán tài sản đấu giá.

Ngày 16/12/2019, ông Đào Công Giang có mặt tại nhà đất số 113 thì thấy khóa cửa, gọi điện cho Nguyễn Thị Bi nhưng không được nên ông Giang đã mời Công ty Thừa phát lại Hai Bà Trưng lập vi bằng chứng kiến việc mở cửa và niêm phong các tài sản trong nhà, sau đó yêu cầu gia đình Bi dời tài sản ra ngoài nhưng gia đình Nguyễn Thị Bi không thực hiện. Ông Giang đã cho Công ty cổ phần Đồng đội Tây Trường Sơn thuê làm văn phòng ở tầng 1, còn ông Giang và anh Bình vẫn ở, sinh hoạt các tầng còn lại (Từ tầng 2 đến tầng 5). Ngày 27/12/2019, Nguyễn Thị Bi tiếp tục cắt khóa vào nhà, đuổi hai người đang thuê nhà ra khỏi nhà và cùng gia đình quay lại ở căn nhà trên cho đến nay. Ông Giang tiếp tục trình báo Công an phường Mễ Trì, Công an quận Nam Từ Liêm sự việc trên.

Đến thời điểm tháng 4/2022, do không được gia đình Nguyễn Thị Bi bàn giao trả lại nhà đất, tiền mua nhà đất ông Giang phải đi vay nên ông Giang đã chuyển nhượng lại nhà đất trên cho chị Nguyễn Bảo Anh (Sinh năm: 1993, nơi ở: 54B ngõ 89 phố Tứ Liên, phường Tứ Liên, Tây Hồ, Hà Nội) với thỏa thuận ông Giang sẽ lo toàn bộ chi phí, thủ tục sang tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, sau khi bàn giao nhà đất xong thì mới thanh toán đầy đủ tiền. Ngày 16/5/2022, Sở Tài nguyên và Môi trường Hà Nội đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DG 788281 đối với nhà đất trên cho chị Nguyễn Bảo Anh theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa vợ chồng ông Giang và chị Nguyễn Bảo Anh.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Thị Bi khai nhận hành vi phạm tội và thừa nhận hành vi cắt khóa cửa là vi phạm pháp luật nhưng do Bi và gia đình không có chỗ ở nên hành động như vậy. Nguyễn Thị Bi yêu cầu làm rõ việc thi hành án không đúng quy trình và có lợi ích nhóm dẫn đến Bi và gia đình bị cưỡng chế nhà, không được tạo điều kiện để chuộc lại căn nhà trên.

Căn cứ tài liệu xác minh tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Nam Từ Liêm, Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hà Nội xác định: Quá trình thực hiện việc thi hành án do không tự nguyện thi hành án nên ông Độ, Bi không ký bất kỳ biên bản nào về thi hành án hoặc các biên bản có liên quan, do đó Chi cục Thi hành án dân sự quận Nam Từ Liêm đã thực hiện việc cưỡng chế kê biên, cưỡng chế giao tài sản và các hoạt động khác nhằm thực hiện quyết định của Bản án, quyết định thi hành án theo quy định của pháp luật.

Ngày 25/5/2018, Chấp hành viên Chi cục Thi hành án dân sự quận Nam Từ Liêm đã ban hành Thông báo số 136/TB/CCTHADS về việc: Nhận tiền thuê nhà, đã tống đạt cho ông Độ, Bi với nội dung yêu cầu ông Độ, Bi có mặt ngày 29/5/2018 để nhận tiền thuê nhà theo quy định. Do ông Độ, Bi không đến nhận tiền thuê nhà theo quy định nên ngày 27/7/2018, Chấp hành viên đã ban hành Thông báo số 202/TB/CCTHADS về việc ông Độ, Bi được nhận số tiền thuê nhà là 10.000.000 đồng/1 tháng (Thời hạn là 01 năm) và yêu cầu ông Độ, bà Bi đến nhận số tiền trên; Tuy nhiên, ông Độ, Bi không đến nhận. Chi cục Thi hành án dân sự quận Nam Từ Liêm đã gửi tiết kiệm kỳ hạn 01 tháng đối với số tiền thuê nhà là: 120.000.000 đồng (Một trăm hai mươi triệu đồng).

Ngày 27/12/2018, Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hà Nội đã ra Quyết định giải quyết khiếu nại số 16: Không chấp nhận đơn khiếu nại của bà Nguyễn Thị Bi liên quan đến khiếu nại chấp hành viên Chi cục Thi hành án dân sự quận Nam Từ Liêm không thông báo trong quá trình tổ chức bán đấu giá tài sản làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của ông Độ, bà Bi. Quyết định xác định Chấp hành viên đã tuân thủ đúng quy định pháp luật thi hành án dân sự.

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra tiến hành xác minh căn nhà số 113 xác định có 06 người đang ở và sinh hoạt gồm: Nguyễn Thị Bi, chồng (Ông Nguyễn Đình Độ), hai vợ chồng con trai, con dâu là (Nguyễn Đình An, Đào Thị Hương), 02 con của anh An, chị Hương là (Nguyễn Thị An Bình, Nguyễn Đình Tuấn Phong). Cơ quan điều tra tiến hành triệu tập ông Nguyễn Đình Độ, Nguyễn Đình An, Đào Thị Hương để làm rõ việc ở cùng Nguyễn Thị Bi tại căn nhà số 113, tuy nhiên An và Hương không đến làm việc. Nguyễn Đình An có đơn ngày 27/12/2022 trình bày về việc không liên quan đến tranh chấp ngôi nhà; Việc vợ chồng An và các con đang sinh sống tại ngôi nhà do An là con trai duy nhất trong nhà, có trách nhiệm, bổn phận chăm sóc, phụng dưỡng bố mẹ. Căn cứ tài liệu điều tra, Cơ quan điều tra xét hành vi của ông Nguyễn Đình Độ và anh Nguyễn Đình An, chị Đào Thị Hương có mức độ, không đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự nên không xem xét việc xử lý đối với ông Nguyễn Đình Độ, anh Nguyễn Đình An, chị Đào Thị Hương.

Cơ quan điều tra đã tiến hành rà soát, xác minh đối với thông tin những người đã thuê nhà của ông Đào Công Giang tuy nhiên không thu thập được hợp đồng thuê nhà, không xác định được ai là người có mặt tại thời điểm xảy ra sự việc.

Về dân sự: Ông Đào Công Giang đề nghị gia đình Nguyễn Thị Bi trả lại nhà đất số 113 cho ông Giang để bàn giao cho chị Nguyễn Bảo Anh. Ngoài ra ông Giang yêu cầu Nguyễn Thị Bi bồi thường số tiền ông Giang có thể cho thuê căn nhà số 113 với giá 11.000.000 đồng/01 tháng tính từ thời điểm tháng 12 năm 2019 đến thời điểm Bi trả lại căn nhà.

Chị Nguyễn Bảo Anh không có đề nghị gì về dân sự.

Quá trình điều tra bị cáo Nguyễn Thị Bi thừa nhận hành vi phạm tội của mình tuy nhiên không khắc phục vi phạm.

Tại bản Cáo trạng số 48/CT-VKSNTL, ngày 06/3/2023 Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm đã quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Thị Bi về tội “Xâm phạm chỗ ở của người khác” theo điểm c khoản 2 Điều 158 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

- Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội có mức độ, chưa được thành khẩn, bị cáo cho rằng cáo trạng truy tố có chỗ đúng có chỗ sai, bản thân bị cáo bị bệnh xương khớp, chồng bị tai biến, vì nhà đất vẫn đứng tên bị cáo nên bị cáo vẫn không di dời, việc bị cáo ở lại nhà không biết là đúng là sai thế nào vì bị cáo không hiểu pháp luật.

- Đại diện theo uỷ quyền của bị hại anh Nguyễn Chí Bình trình bày: Tôi không yêu cầu bị cáo phải bồi thường các khoản tiền về nhà, đề nghị Toà buộc bị cáo Nguyễn Thị Bi và những người có nghĩa vụ liên quan phải trả lại nhà đất số 113 tổ dân phố số 2, Mễ Trì Thượng, phường Mễ Trì, quận Nam Từ Liêm, TP Hà Nội cho ông Giang để ông Giang bàn giao cho chị Nguyễn Bảo Anh và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm giữ nguyên quyết định của bản cáo trạng truy tố, sau khi phân tích chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 2 Điều 158; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 47, Điều 48, Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Bi mức án từ 12 đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng.

- Về dân sự bị hại không có yêu cầu gì nên không xét. Buộc bị cáo và những người liên quan trong gia đình bị cáo phải bàn giao lại nhà cho bị hại.

- Anh Nguyễn Đình An trình bày: Tôi là con trai trong gia đình, tôi phải ở cùng bố mẹ để chăm sóc bố mẹ và ở cùng. Việc mẹ tôi thế chấp nhà đất tôi không biết.

- Chị Nguyễn Bảo Anh trình bày: Việc tôi mua nhà là hợp pháp đề nghị Hội đồng xét xử bảo vệ quyền lợi cho tôi.

Luật sư bào chữa cho bị cáo trình bày: Tôi đồng tình với bản luận tội của Viện kiểm sát. Do bị cáo không hiểu biết pháp luật, nguyên nhân dẫn đến bị cáo phạm tội là có liên quan đến hoạt động thi hành án.

Trước khi bị cáo cắt khoá, bị cáo có đi hỏi cơ quan quản lý nhà đất, bị cáo nhận thức rằng do nhà đất vẫn đứng tên bị cáo nên dẫn đến việc bị cáo cắt khoá và ở lại nhà đất. Quan điểm của Luật sư: Bị cáo cắt khoá chỉ 1 lần vì bị cáo đang ở đấy, có tài sản trong đó nên bị cáo cắt khoá để vào, động cơ mục đích diễn biến cắt khoá lần thứ 2 là mang tính liên tục. Gia đình bị cáo có công với cách mạng, chồng bị cáo ốm đau, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ tạo điều kiện cho bị cáo hưởng khoan hồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận:

Vào ngày 16/5/2018 và ngày 27/12/2019, Nguyễn Thị Bi đã có hành vi phá khóa cửa và chiếm giữ trái phép ở ngôi nhà số 113, Tổ dân phố số 2, Mễ Trì Thượng, phường Mễ Trì, Nam Từ Liêm, Hà Nội của ông Đào Công Giang là người đã mua trúng đấu giá trong thi hành án dân sự năm 2017 đến nay.

Hành vi trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành “Tội xâm phạm chỗ ở của người khác“ theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 158 Bộ luật hình sự.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chỗ ở của công dân, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương, tại thời điểm xét xử bị cáo và những người trong gia đình bị cáo vẫn ở trên nhà đất, vì vậy không thể cho bị cáo hưởng án treo như đề nghị của Viện kiểm sát. Đối với bị cáo cần phải lên một mức án tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo giáo dục đối với bị cáo.

Tuy nhiên khi lượng hình Hội đồng xét xử cũng xem xét, quá trình điều tra bị cáo khai báo thành khẩn, tại phiên toà bị cáo khai báo tương đối thành khẩn, bị cáo lần đầu bị đưa ra xét xử, do vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Về dân sự: Tại cơ quan điều tra ông Đào Công Giang yêu cầu Nguyễn Thị Bi bồi thường số tiền ông Giang có thể cho thuê căn nhà số 113 với giá 11.000.000 đồng/01 tháng tính từ thời điểm tháng 12 năm 2019 đến thời điểm bị cáo Nguyễn Thị Bi trả lại căn nhà và Ông Đào Công Giang đề nghị gia đình Nguyễn Thị Bi trả lại nhà đất số 113 cho ông Giang để bàn giao cho chị Nguyễn Bảo Anh.

- Tại phiên toà đại diện theo uỷ quyền của ông Đào Công Giang trình bày: Không yêu cầu bị cáo Nguyễn Thị Bi phải trả tiền nhà nên hội đồng xét xử không xét.

- Đề nghị Toà buộc bị cáo Nguyễn Thị Bi và những người có nghĩa vụ liên quan phải trả lại nhà đất số 113 tổ dân phố số 2, Mễ Trì Thượng, phường Mễ Trì, quận Nam Từ Liêm, TP Hà Nội cho ông Giang để ông Giang bàn giao cho chị Nguyễn Bảo Anh.

- Xét yêu cầu của ông Đào Công Giang là chính đáng nên buộc bị cáo Nguyễn Thị Bi và những người liên quan gồm: Ông Nguyễn Đình Độ, anh Nguyễn Đình An, chị Đào Thị Hương, cháu Nguyễn Thị An Bình, cháu Nguyễn Đình Tuấn Phong (Đại diện hợp pháp của cháu Nguyễn Thị An Bình, cháu Nguyễn Đình Tuấn Phong là anh Nguyễn Đình An và chị Đào Thị Hương) phải bàn giao trả lại nhà đất cho ông Đào Công Giang và di dời ra khỏi nhà 05 tầng xây trên diện tích đất là 55,7 m2 tại địa chỉ số 113, tổ dân phố số 2 Mễ Trì Thượng, phường Mễ Trì, quận Nam Từ Liêm, Hà Nội để ông Đào Công Giang bàn giao lại nhà đất cho chị Nguyễn Bảo Anh.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Bảo Anh mua lại nhà của ông Đào Công Giang, việc chị mua nhà tại địa chỉ số 113, tổ dân phố số 2 Mễ Trì Thượng, phường Mễ Trì, quận Nam Từ Liêm là hợp pháp nên cần được công nhận.

Về đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đối với vụ án: Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử, xử bị cáo mức án treo là nhẹ.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Công an quận Nam Từ Liêm, Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại quá trình điều tra, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, do đó các hành vi quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Bi (Nguyễn Thị By) phạm tội “Xâm phạm chỗ ở của người khác”.

2. Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 158, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 47, Điều 48, Điều 38 Bộ luật hình sự:

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Bi (Nguyễn Thị By) 12 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

3. Về dân sự, án phí và quyền kháng cáo. Căn cứ Điều 10 Luật nhà ở, Điều 579 Bộ luật Dân sự; khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333, Điều 337 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 31/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án:

Buộc bị cáo Nguyễn Thị Bi (Nguyễn Thị By), ông Nguyễn Đình Độ, anh Nguyễn Đình An, chị Đào Thị Hương, cháu Nguyễn Thị An Bình, cháu Nguyễn Đình Tuấn Phong, đại diện hợp pháp của cháu Nguyễn Thị An Bình và cháu Nguyễn Đình Tuấn Phong là anh Nguyễn Đình An và chị Đào Thị Hương phải bàn giao lại nhà đất cho ông Đào Công Giang và buộc phải di dời ra khỏi nhà 05 tầng xây trên diện tích đất là 55,7 m2 đất tại địa chỉ số 113, tổ dân phố số 2 Mễ Trì Thượng, phường Mễ Trì, quận Nam Từ Liêm, Hà Nội để trả lại nhà đất cho ông Đào Công Giang và để ông Đào Công Giang bàn giao lại nhà đất cho chị Nguyễn Bảo Anh theo hợp đồng (Khi hai bên giữa ông Đào Công Giang và chị Nguyễn Bảo Anh đã giải quyết xong mọi thủ tục chuyển nhượng nhà đất hợp pháp theo quy định của pháp luật).

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

3.3. Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm;

3.4. Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo Nguyễn Thị Bi, bị hại ông Đào Công Giang, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Đình An, chị Nguyễn Bảo Anh có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

3.5. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. Nơi!nhận:!!

Cỡ chữ