- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án bị cáo Nguyễn Đức Quân phạm tội "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS n…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Cao Phƣơng N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 106 /2023/HSST Ngày: 18/7/2023 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
`
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Ngọc Liên
- Các Hội thẩm nhân dân :
Bà Nguyễn Thị Thụy
Bà Lƣu Thị Kim Hiền
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vân Anh - Thư ký Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình tham gia phiên tòa:
Bà Phạm Thị Huyền Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 18/7/2023, Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai bằng hình thức trực tuyến tại điểm cầu trung tâm: Phòng xét xử trực tuyến – Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội. Điểm cầu thành phần tại: Phòng xét xử trực tuyến Trại tạm giam số 1 – Công an thành phố Hà Nội, vụ án hình sự thụ lý số: 97/HSST ngày 23 tháng 6 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 230/QĐXXST-HS ngày 04/7/2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Cao Phƣơng N, sinh ngày 15/11/1989; ĐKHKTT: 434 tổ 16 phường H, quận H, thành phố H; Nơi ở: Không có nơi ở cố định; Nghề nghiệp: Không; Văn hóa: 8/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Cao Văn P (Đã chết); Con bà: Nguyễn Thị Bích L; Vợ: Nguyễn Ngọc D; Có 01 con sinh năm 2011; Tiền án, tiền sự: 03 tiền án:
- Bản án số 19/2008/HSST ngày 31/01/2008, Tòa án quận Cầu Giấy xử 06 tháng tù giam về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản; Ra trại ngày 01/6/2008. Xác minh thi hành án: Đã nộp khoản án phí HSST; truy thu 150.000 đồng và được đình chỉ số tiền truy thu 4.600.000 đồng ngày 24/8/2015. Xác định đã được xóa án tích.
- Bản án số 200/2010/HSST ngày 08/9/2011, Tòa án quận Cầu Giấy xử 42 tháng tù giam về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; ngày phạm tội 04/5/2011; Ra trại ngày 04/7/2014. Xác minh thi hành án đã nộp án phí HSST ngày 08/9/2011. Xác định chưa được xóa án tích.
- Bản án số 87/2016/HSST ngày 15/4/2016, Tòa án quận Cầu Giấy xử Cao Phương N 07 năm 06 tháng tù giam về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; Ngày phạm tội 29/6/2015; Ra trại ngày 29/01/2022. Xác minh thi hành án chưa nộp án phí HSST. Xác định chưa được xóa án tích.
Bị can Cao Phương N bị bắt quả tang ngày 09/3/2023; Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 - Công an thành phố Hà Nội. Số giam: 155C2, buồng giam: số 2.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Bị cáo Cao Phương N bị Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Khoảng 21h20’ ngày 09/03/2023, tại ngõ 35 L, phường Thành Công, quận B, thành phố H, tổ công tác Công an phường Thành Công phát hiện Cao Phương N đi xe máy Honda Wave S mang BKS: 30N4-4XXX có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra hành chính. Qua kiểm tra, phát hiện trong túi quần phía trước bên phải của N có 01 túi nilong màu trắng kích thước 2x3 cm bên trong chứa tinh thể màu trắng. Tại chỗ, N khai nhận là ma túy “đá” mang đi để bán cho khách kiếm lời. Tổ công tác đã đưa N cùng tang vật về trụ sở Công an phường Thành Công, Ba Đình để làm rõ.
Ngoài số ma túy bị thu giữ nêu trên, Công an còn thu giữ của Cao Phương N: 01 (một) điện thoại di động Redmi Note 11 màu xanh và 01 (một) điện thoại di động Oppo A95 màu đen trong túi quần phía trước bên trái; 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave S màu đen BKS: 30N4-4XXX; Số tiền 1.690.000 đồng (Một triệu sáu trăm chín mươi nghìn đồng) tại túi quần phía sau bên phải.
Theo bản Kết luận giám định số 1433/KL-KTHS ngày 17/3/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự - CATP Hà Nội kết luận: “Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilong là ma túy loại Methamphetamin, khối lượng: 0,309 gam”.
Tại cơ quan điều tra, ban đầu Cao Phương N khai nhận: Bản thân N do nghiện ma túy và không có tiền tiêu xài nên nảy sinh ý định bán ma túy để kiếm tiền. Khoảng 20h ngày 09/03/2023, N đang ở địa chỉ 164 P, đường C, quận B, thành phố H thì một người phụ nữ dùng số điện thoại 058315xxxx gọi tới số điện thoại 086855xxxx của N để hỏi mua ma túy “đá” với giá 500.000 đồng và mang đến địa chỉ 35 L, phường T, quận B, thành phố H. N đồng ý. Sau đó, N điều khiển xe máy Wave S màu đen BKS: 30N4-4XXX tới khu vực đầu ngõ 254 M, quận H, thành phố H để tìm mua ma túy. Tại đây, N gặp và mua của một người đàn ông không quen biết 01 gói nilong chứa ma túy “đá” với giá 300.000 đồng để bán lại cho người phụ nữ đã hẹn trước đó với giá 500.000 đồng để hưởng lãi 200.000 đồng. Mua xong, N cất gói ma túy trên vào túi quần phía trước bên phải rồi điều khiển xe máy tới điểm hẹn ở ngõ 35 L. Khi tới giữa ngõ 35 L, N dừng xe gọi cho người phụ nữ có số điện thoại 058315xxxx thì bị tổ công tác Công an phường Thành Công phát hiện bắt quả tang như đã nêu ở trên.
Ngoài ra, N còn khai nhận: Sáng ngày 09/03/2023, tại ngõ 1 T, quận Đ, thành phố H, N đã bán ma túy loại Ketamine với giá 2.500.000 đồng cho một người đàn ông sử dụng tài khoản Telegram tên Ngô Sỹ L (số telegram: 0817027648). Theo tin nhắn thỏa thuận giữa N và Liên, việc thanh toán như sau: L chuyển trước cho N 1.200.000 đồng vào tài khoản số 0001810xxxxxx tên Cao Phương N mở tại Ngân hàng MB. Khi giao nhận ma túy xong, L sẽ trả nốt cho N 1.300.000 đồng tiền mặt. N khai nhận nguồn gốc số ma túy này do N mua của một người đàn ông không quen với giá 2.000.000 đồng vào khoảng 02h00’ ngày 09/3/2023 tại khu vực sân bóng T, quận H. Như vậy, khi bán thành công ma túy cho Ngô Sỹ L, N hưởng lãi 500.000 đồng.
Khi kiểm tra hai chiếc điện thoại thu giữ được của N, Công an phường Thành Công phát hiện và thu giữ:
Đối với điện thoại Redmi Note 11, sim số 086855xxxx vào ngày 09/3/2023 có hiển thị cuộc gọi và tin nhắn liên quan đến việc N và người phụ nữ số điện thoại 058315xxxx trao đổi, mua bán ma túy với nhau. Vào lúc 19h49’, N nhắn tin cho số điện thoại 058315xxxx. Sau đó, hai người hẹn nhau ở 35 L. N đưa ra giá 600, gửi tài khoản MB số 0001810xxxxxx của N cho người phụ nữ và hẹn “tí a gọi”. Sau đó, người phụ nữ tiếp tục nhắn tin cho N, trong đó có nội dung chuyển cọc trước số tiền mua ma túy cho N, khi nào nhận được “đồ” thì thanh toán nốt.
Đối với chiếc điện thoại Oppo A95, sim 1 số 038949xxxx; sim 2 số 090104xxxx phát hiện có tài khoản mạng xã hội Telegram tên Ngô Sỹ L nhắn tin trao đổi với N. N báo giá cho Liên “tổng là 2500 và gửi cho Liên số tài khoản 0001810xxxxxx của N tại Ngân hàng MB. Liên nhắn sẽ chuyển khoản trước 1,2tr”, sau đó sẽ đưa số tiền còn lại cho N bằng tiền mặt. Hai người hẹn nhau ở ngõ 1A T để giao dịch.
Cơ quan điều tra Công an quận Ba Đình đã tiến hành rút lịch sử liên lạc số điện thoại 086855xxxx mà N sử dụng để liên lạc với người phụ nữ sử dụng số điện thoại 058315xxxx và rút sao kê tài khoản Ngân hàng MB, số tài khoản 0001810xxxxxx của N. Qua đó xác định:
Đối với lịch sử cuộc gọi: Vào lúc 19h49’ ngày 09/3/2023, số điện thoại 058315xxxx đã gọi điện cho số điện thoại 086855xxxx của N. Vào lúc 20h36’ ngày 09/3/2023, N vẫn gọi điện được cho người phụ nữ có số điện thoại 058315xxxx, vị trí cột sóng là tại L, T, quận B, thành phố H. Tổng cộng trong buổi tối ngày 09/3/2023, hai số điện thoại này đã liên hệ trao đổi với nhau 07 (bảy) lần.
Đối với lịch sử giao dịch của số tài khoản 0001810xxxxxx tên Cao Phương N tại ngân hàng MB: Ngày 09/3/2023, không phát sinh giao dịch “có” khoản tiền 1.200.000 đồng từ người tên Ngô Sỹ L; phát sinh giao dịch “có” từ người tên “Tran Thi Tai L”, số tài khoản 797010203xxxx tại ngân hàng MB chuyển cho N 200.000 đồng với nội dung “Tien coc MT DA o 35 Lang Ha”.
Tuy nhiên, tại biên bản hỏi cung bị can ngày 18/5/2023 và 31/5/2023, Cao Phương N không thừa nhận hành vi mua bán trái phép chất ma túy của mình mà chỉ nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Cao Phương N khai: Khoảng 19h00’ ngày 09/3/2023, N bị tổ công tác Công an phường Thành Công bắt vì có hành vi tàng trữ 01 túi nilong ma túy “đá” ở túi quần đang mặc phía trước bên phải. Đây là số ma túy “đá” ngày 09/3/2023 N mua của một người đàn ông không quen biết, khoảng 40 tuổi (N không nhớ rõ đặc điểm của người đàn ông này) ở Trần Quý C với giá 300.000 đồng, mục đích để sử dụng cho bản thân. Tuy nhiên, do bị ép cung, nhục hình nên N phải khai nhận đây là số ma túy “đá” N mang đi để bán kiếm lời.
Đối với số điện thoại 058315xxxx đã gọi điện để hẹn N đến địa chỉ số 35 L: N khai đó là người N quen biết tên là “Đạt” sử dụng số điện thoại lạ hẹn N đến 35 L để chơi và giới thiệu bạn gái. N không biết Đạt hiện đang ở đâu.
N giải thích về tin nhắn N gửi số tiền 600.000 đồng kèm số tài khoản của N ở Ngân hàng MB cho người ở sử dụng số điện thoại 058315xxxx là tiền phần trăm N làm cộng tác viên bán pod (hiểu là thuốc lá điện tử) chứ không phải tiền N bán ma túy cho người phụ nữ không quen như lời khai ban đầu.
Ngoài ra, N không thừa nhận đã bán ma túy cho Ngô Sỹ L và không biết Ngô Sỹ L là ai. N cũng không biết các tin nhắn trong điện thoại của N và Ngô Sỹ L vì sao mà có.
Nhận thấy: Đối với việc Cao Phương N khai bị ép cung, nhục hình trong thời gian bị tạm giữ ở Công an phường Thành Công: Biên bản xem xét dấu vết trên thân thể vào hồi 21h50’ ngày 09/3/2023 tại Công an phường Thành Công không phát hiện dấu vết thương tích gì trên thân thể Cao Phương N. Vào hồi 10h40’ ngày 10/3/2023, Cao Phương N được chuyển tới Cơ quan CSĐT – Công an quận Ba Đình. Trước đó, N đã được khám sức khỏe tại Bệnh viện đa khoa Hòe Nhai. Hồ sơ y tế của N tại Bệnh viện Hòe Nhai thể hiện: Khám ngoại, khám nội Cao Phương N không có gì bất thường.
Mặt khác, Công an phường Thành Công đã báo cáo Ban chỉ huy Công an quận Ba Đình “Trong quá trình bắt giữ và làm việc với đối tượng Cao Phương N tại trụ sở Công an phường Thành Công, không có cán bộ Công an phường đánh đập, ép cung, mớm cung đối tượng N. Quá trình làm việc cán bộ công an phường luôn có thái độ đúng mực, đúng theo quy định của ngành”. Ngoài ra, Báo cáo rà soát camera tại Công an phường Thành Công cũng không còn lưu giữ dữ liệu camera ngày 09/3/2023.
Tại Cơ quan điều tra Công an quận Ba Đình, Cao Phương N đã được tự viết bản kiểm điểm; được làm việc với điều tra viên và đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình. Theo đó, N đều thừa nhận sức khỏe hoàn toàn bình thường, không bị ép cung, nhục hình và nhận thức rõ hành vi mua bán trái phép chất ma túy của mình. Do vậy, không đủ căn cứ để xác định Cao Phương N bị ép cung nhục hình.
Đối với việc N khai bị tổ công tác Công an phường Thành Công bắt vào hồi 19 giờ ngày 09/3/2023 là không có căn cứ bởi theo lịch sử các cuộc gọi của N, đến 20h36’ ngày 09/3/2023 N vẫn gọi điện thoại trao đổi với người sử dụng số điện thoại 058315xxxx. Ngoài ra, Cơ quan điều tra – Công an quận Ba Đình đã rà soát dữ liệu camera tại khu vực ngõ 35 Láng Hạ và tại trụ sở Công an phường Thành Công vào thời điểm tổ công tác bắt quả tang Cao Phương N, tuy nhiên, do thời gian đã lâu nên dữ liệu không còn lưu trong ổ ghi của camera. Như vậy, lời khai sau của N về thời điểm bị tổ công tác bắt là không chính xác.
Cơ quan điều tra đã xác minh thông tin chủ thuê bao 058315xxxx là Bùi Quang Huy, địa chỉ: số 20 ngõ 8, Lê Lợi, phường Nguyễn Trãi, Đống Đa, Hà Nội. Anh Huy cho biết anh không sử dụng số điện thoại trên và cũng không biết ai sử dụng số điện thoại này. Do đó, không xác định được người tên “Đạt” như lời khai của N.
Mặt khác, sao kê tài khoản giao dịch của Cao Phương N ngày 09/3/2023 không có giao dịch phát sinh “có” khoản tiền 600.000 đồng như lời khai của N là tiền cộng tác viên bán thuốc lá điện tử với Đạt. Đồng thời, sao kê tài khoản giao dịch phù hợp với lời khai ban đầu của N là mua ma túy về để bán cho người phụ nữ không quen biết ở 35 Láng Hạ; phù hợp với tin nhắn thu giữ được trong máy điện thoại Redmi Note 11 của N và phù hợp với lịch sử cuộc gọi giữa N và người sử dụng số điện thoại 058315xxxx.
Tài liệu điều tra không đủ căn cứ xác định sáng ngày 09/3/2023, Cao Phương N đã bán ma túy cho đối tượng Ngô Sỹ L. Do đó, không đủ căn cứ xác định Cao Phương N mua bán ma túy nhiều lần.
Lời khai ban đầu của Cao Phương N phù hợp với biên bản phạm tội quả tang, phù hợp với lời khai của 02 người làm chứng, biên bản dẫn giải, sơ đồ hiện trường, vật chứng thu giữ được và các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được trong quá trình điều tra. Do đó, đủ căn cứ xác định Cao Phương N phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.
Đối với chiếc xe máy Honda Wave S, màu đen BKS: 30N4-4XXX, số máy nguyên thủy: JC43E146XXXX, số khung nguyên thủy: RLHJC4317AY66xxxx thu của N, ban đầu N khai là mượn của của cậu ruột tên Nguyễn Văn Sơn, địa chỉ ở 164 P. Quá trình xác minh, anh S cho biết không cho N mượn chiếc xe trên. Sau đó, N khai mượn chiếc xe này của một người tên T ở khu Lĩnh N nhưng N không nhớ địa chỉ. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh chủ sở hữu chiếc xe máy mà N bị thu giữ là anh Ứng Văn T, địa chỉ ở 75A M, quận H, thành phố H. Anh T cho biết anh mua chiếc xe máy trên năm 2010 và đăng ký chính chủ tên anh. Tuy nhiên, năm 2021 anh T đã bán chiếc xe máy này cho một người không quen ở khu vực K, thành phố H. Hiện nay, anh T không phải là chủ sở hữu chiếc xe máy trên. Cơ quan điều tra đã đăng tin trên báo nhưng không tìm được chủ sở hữu chiếc xe. Do vậy, Cơ quan điều tra đã chuyển chiếc xe này tới Cơ quan thi hành án để xử lý theo quy định của pháp luật.
Tại cáo trạng số: 92/CT-VKSBĐ 12/6/2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình đã truy tố Cao Phương N về tội Mua bán trái phép chất ma túy , được quy định tại điểm p khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Kiểm sát viên - Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm vụ án và đưa ra những chứng cứ, lý lẽ kết luận: Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm p khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015. Cần áp dụng hình phạt tù giam nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để răn đe giáo dục bị cáo cũng như phòng ngừng chung cho xã hội. Tuy nhiên xét tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội nên cần thiết áp dụng cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015.
Đề nghị về hình phạt: áp dụng điểm p khoản 2 Điều 251; Điều 38; Điều 47; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ Luật hình sự 2015. Đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo mức án từ 07 năm 03 tháng đến 08 năm 02 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09/3/2023.
Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ Luật tố tụng hình sự để tịch thu tiêu hủy 01(một) phong bì niêm phong bên trong chứa 0,309 gam ma túy loại Methamphetamin, đã qua giám định có chữ ký của cán bộ giám định và đối tượng; Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động Redmi Note 11 màu xanh do có liên quan đến hành vi phạm tội. Trả lại bị cáo 01 (một) điện thoại di động Oppo A95 màu đen do không liên quan đến hành vi phạm tội. Đối với số tiền 1.690.000 đồng (một triệu sáu trăm chín mươi nghìn đồng) là tiền của bị cáo nên trả lại cho bị cáo. Buộc bị cáo phải truy thu số tiền 200.000 đồng thu lời bất chính để nộp Ngân sách Nhà nước. Đối với chiếc 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave S màu đen BKS: 30N4-4XXX; SK 66xxxx; SM: 146xxxx. Quá trình điều tra đã xác minh nhưng không xác định được chủ sở hữu nên Cơ quan Điều tra đã đăng báo nhưng không tìm thấy chủ sở hữu chiếc xe. Vì vậy tiếp tục giao Cơ quan Thi hành án Dân sự quận Ba Đình quản lý trong thời hạn 01 năm kể từ ngày đăng báo 20/5/2023. Trường hợp hết thời hạn nêu trên mà không tìm được chủ sở hữu hợp pháp để trao trả chiếc xe thì tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước.
Các vật chứng trên đang lưu giữ tại Chi Cục thi hành án dân sự quận Ba Đình theo biên bản giao vật chứng số 153 ngày 04/7/2023 và phiếu nộp tiền vào tài khoản ngày 04/7/2023 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Ba Đình.
Sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội, bị cáo đồng ý với tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố, không có tranh luận gì. Trong lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì bị cáo đã nhận thức được hành vi phạm tội của mình.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ NHẬN ĐỊNH:
[1] Quá trình điều tra, truy tố liên quan đến đến việc giải quyết vụ án (Về hành vi, các quyết định tố tụng), Điều tra viên, kiểm sát viên đã tiến hành đúng các quy định của Bộ Luật tố tụng hình sự;
[2] Nội dung: Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ diễn biến vụ án đúng như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố. Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 21h20’ phút ngày 09/3/2023, tại ngõ 35 Láng Hạ, phường Thành Công, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội, Cao Phương N có hành vi tàng trữ trái phép 01 (một) gói ma túy loại Methamphetamin, khối lượng: 0,309 gam, mục đích để bán kiếm lời thì bị tổ tuần tra kiểm soát Công an phường Thành Công, Ba Đình bắt quả tang cùng vật chứng.
Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai ban đầu tại cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, bản kết luận giám định cùng các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Cao Phương N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm p khoản 2 Điều 251 Bộ Luật hình sự năm 2015.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an xã hội tại địa phương, ma túy là chất gây nghiện, chất hướng thần và là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác. Do vậy phải áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Khi xem xét quyết định mức hình phạt đối với bị cáo: Hội đồng xét xử xét nhân thân bị cáo có 03tiền án trong đó có 02 tiền án năm 2011 và 2016 chưa được xóa án nên lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. Tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, tự thú, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội nên cần thiết áp dụng cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015.
Đối tượng bán ma tuý cho N và đối tượng mua ma túy của N, cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng không làm rõ được lai lịch cụ thể nên không có cơ sở để xử lý.
Bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[3] Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ Luật tố tụng hình sự để tịch thu tiêu hủy 01(một) phong bì niêm phong bên trong chứa 0,309 gam ma túy loại Methamphetamin, đã qua giám định có chữ ký của cán bộ giám định và đối tượng;
Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động Redmi Note 11 màu xanh do có liên quan đến hành vi phạm tội. Trả lại bị cáo 01 (một) điện thoại di động Oppo A95 màu đen do không liên quan đến hành vi phạm tội. Đối với số tiền 1.690.000 đồng (Một triệu sáu trăm chín mươi nghìn đồng) là tiền của bị cáo nên trả lại cho bị cáo. Buộc bị cáo phải truy thu số tiền 200.000 đồng thu lời bất chính để nộp Ngân sách Nhà nước. Đối với chiếc 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave S màu đen BKS: 30N4-4XXX; SK 66xxxx; SM: 146xxxx. Quá trình điều tra đã xác minh nhưng không xác định được chủ sở hữu nên Cơ quan Điều tra đã đăng báo nhưng không tìm thấy chủ sở hữu chiếc xe. Vì vậy tiếp tục giao Cơ quan Thi hành án Dân sự quận Ba Đình quản lý trong thời hạn 01 năm kể từ ngày đăng báo 20/5/2023. Trường hợp hết thời hạn nêu trên mà không tìm được chủ sở hữu hợp pháp để trao trả chiếc xe thì tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước.
Các vật chứng trên đang lưu giữ tại Chi Cục thi hành án dân sự quận Ba Đình theo biên bản giao vật chứng số 153 ngày 04/7/2023 và phiếu nộp tiền vào tài khoản ngày 04/7/2023 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Ba Đình.
Bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[4] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các căn cứ, nhận định của Hội đồng xét xử;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng điểm p khoản 2 Điều 251; Điều 38; Điều 47; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ Luật hình sự năm 2015; các Điều 106; 136; 331; 333 Bộ Luật tố tụng hình sự năm 2015; Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
2. Tuyên bố bị cáo Cao Phƣơng N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Cao Phƣơng N 07 (Bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09/3/2023.
Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ Luật tố tụng hình sự để tịch thu tiêu hủy 01(một) phong bì niêm phong bên trong có: 0,309 gam ma túy loại Methamphetamin, đã qua giám định. Sau khi Phòng PC 09 – CATP Hà Nội trích mẫu giám định, số còn lại được niêm phong. Bên ngoài có chữ ký của Cao Phương N và Giám định viên.
Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động Redmi Note 11 màu xanh đã qua sử dụng. Trả lại bị cáo 01 (một) điện thoại di động Oppo A95 màu đen, đã qua sử dụng. Trả lại bị cáo số tiền 1.690.000 (Một triệu sáu trăm chín mươi nghìn đồng). Buộc bị cáo phải truy thu số tiền 200.000 (Hai trăm nghìn đồng) thu lời bất chính để nộp Ngân sách Nhà nước.
Đối với chiếc 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave S màu đen BKS: 30N4-4XXX; SK 66xxxx; SM: 146xxxx. Quá trình điều tra đã xác minh nhưng không xác định được chủ sở hữu nên Cơ quan Điều tra đã đăng báo nhưng không tìm thấy chủ sở hữu chiếc xe. Vì vậy tiếp tục giao Cơ quan Thi hành án Dân sự quận Ba Đình quản lý trong thời hạn 01 năm kể từ ngày đăng báo 20/5/2023. Trường hợp hết thời hạn nêu trên mà không tìm được chủ sở hữu hợp pháp để trao trả chiếc xe thì tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước.
Các vật chứng trên đang lưu giữ tại Chi Cục thi hành án dân sự quận Ba Đình theo biên bản giao vật chứng số 153 ngày 04/7/2023 và phiếu nộp tiền vào tài khoản ngày 04/7/2023 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Ba Đình.
Án phí HSST: Bị cáo Cao Phương N phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Cao Phương N có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội; - Sở Tư pháp thành phố Hà Nội; - Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình; - Trại tạm giam số 1 Công an TPHN; - Công an quận Ba Đình; - Chi cục THA dân sự quận Ba Đình; -UBND phường Hoàng Văn Thụ, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội. - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Đinh Ngọc Liên |