- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình"
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN! THÀNH!PHỐ!THANH!HÓA! TỈNH!THANH!HÓA! ! ! ! Bản án số: 106/2023/HNGĐ-ST Ngày: 14/9/2023! |
V/v: Ly hôn.
NHÂN!DANH!
NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!
!
TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!THÀNH!PHỐ!THANH!HÓA,!TỈNH!THANH!HÓA!
!
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm""phán"-"Chủ"tọa"phiên"tòa:"Ông Phạm Văn Hào
Các"Hội"thẩm"nhân"dân: !!!!!!!!!1. Bà Nguyễn Thị Hạnh!
!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!! !!!!!!!!2. Ông Lê Cát Tưởng!
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Quang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Trà My - Kiểm sát viên
Ngày 14 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa xét xử công khai vụ án dân sự thụ lý số: 355/2023/TLST - HNG§ ngày 03 tháng 7 năm 2023 về việc “Ly"hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 175/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 8 năm 2023; Quyết định thay thế thành viên những người tiến hành tố tụng số: 96/QĐ-TA ngày 30/8/2023, giữa các đương sự:
!Nguyên!đơn:!Anh Lê Hữu D - Sinh năm 1991
Địa chỉ: Thôn T, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.
!
Bị!đơn: Chị Nguyễn Thùy L - Sinh năm 1990
Địa chỉ: SN MAT, phường L, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.
Tại phiên tòa có mặt anh D, vắng mặt chị L.
NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:!
- Theo đơn khởi kiện, bản tự khai anh Lê Hữu Dtrình bày:
Về hôn nhân: Anh và chị Nguyễn Thùy L kết hôn với nhau năm 2016 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND phường Đông Hương, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống với nhau hòa thuận hạnh phúc được một thời gian đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do quan điểm, cách sống luôn trái ngược nhau nên vợ chồng thường xuyên có lời qua tiếng lại dẫn đến mâu thuẫn triền miên xảy ra và ngày càng trầm trọng. Khoảng từ đầu năm 2020 đến nay vợ chồng sống ly thân nhau không ai quan tâm đến ai. Nay anh xét thấy tình cảm vợ chồng thực sự không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị Nguyễn Thùy L.
Về con chung: Anh và chị Nguyễn Thùy L không có con chung.
Về tài sản chung và công nợ chung: anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
"
-"Về phía chị Nguyễn Thùy L: Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập, thông báo phiên họp kiểm tra việc tiếp cận, giao nộp, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa nhưng chị L không có mặt.
- Cung cấp của chính quyền địa phương cho thấy:
Anh Lê Hữu D, chị Nguyễn Thùy L kết hôn với nhau năm 2016, có đăng ký kết hôn tại UBND phường Đông Hương, thành phố Thanh Hóa. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống với nhau tại số nhà 15A/27 Mai An Tiêm, phường Lam Sơn, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Thời gian đầu vợ chồng chung sống với nhau hòa thuận, hạnh phúc đến khoảng năm 2020 thì thấy có lời quan tiếng lại, nhưng mâu thuẫn vì lý do gì thì phố không biết. Tuy nhiên kể từ năm 2020 anh D đã bỏ đi ở nơi khác, còn chị L vẫn đang sinh sống tại khu phố. Nay anh D làm đơn xin ly hôn phố mong muốn Tòa án hòa giải cho hai vợ chồng, nhưng nếu anh D cương quyết xin ly hôn đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Anh D, chị L không có con chung, vợ chồng có tài sản, công nợ gì khu phố không biết.
Tại phiên tòa chị L vắng mặt lần thứ hai không có lý do, anh D vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện xin ly hôn.
Đại diện VKS phát biểu ý kiến trong quá trình giải quyết vụ án thẩm phán, hội đồng xét xử, thư ký, nguyên đơn đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do nên đề nghị Tòa án căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 BLTTDS để xét xử. Về yêu cầu khởi kiện: đề nghị HĐXX căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN:!
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Anh Lê Hữu D khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết việc ly hôn, là quan hệ tranh chấp về hôn nhân và gia đình theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Chị Nguyễn Thùy Linh cư trú tại thành phố Thanh Hóa, nên Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Chị Nguyễn Thùy L đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, nhưng chị L không có mặt để làm bản tự khai, vắng mặt tại phiên hòa giải, vắng mặt tại phiên tòa nên căn cứ khoản 1 Điều 207, khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử.
[2] Về hôn nhân: Anh Lê Hữu D, chị Nguyễn Thùy L kết hôn với nhau có đăng ký kết hôn tại UBND phường Đông Hương, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa là hôn nhân hợp pháp.
Xét yêu cầu xin ly hôn của anh D thấy rằng: Hôn nhân muốn tồn tại trước hết vợ chồng phải thương yêu, tin tưởng nhau và có trách nhiệm với nhau cùng nhau xây dựng hạnh phúc gia đình. Qua xem xét lời khai của anh D cho thấy, sau khi kết hôn anh chị đã có thời gian đầu chung sống hạnh phúc, nhưng thời gian đó chỉ tồn tại trong thời gian đến đầu năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không có tiếng nói chung nên thường xuyên cãi vã, chửi bới, xúc phạm nhau, từ đó mâu thuẫn triền miên xảy ra và ngày càng trầm trọng. Từ đầu năm 2020 vợ chồng đã sống ly thân nhau không ai quan tâm đến ai, phù hợp với tài liệu thu thập do phố cung cấp. Mặt khác sau khi thụ lý vụ án đến thời điểm này dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần để thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình, nhưng chị L đã không đến Tòa án để làm việc. Điều đó cho thấy chị L không có ý thức níu kéo lại hạnh phúc gia đình mà mặc nhiên để anh D đơn phương ly hôn.
Từ sự phân tích như trên có đủ cơ sở xác định, tình trạng mâu thuẫn giữa anh Duy, chị Linh đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của anh D xử cho anh được ly hôn chị Nguyễn Thùy L.
[3] Về con chung: Anh Lê Hữu D, chị Nguyễn Thùy L không có con chung.
[4] Về tài sản: Anh Lê Hữu D không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về"án"phí: Anh Lê Hữu D phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì"các"lẽ"trên,
QUYẾT!ĐỊNH:!
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 207, khoản 2 Điều 227, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình; Khoản 5 Điều 27, khoản 1. 1 Điều 1 phần I, mục A Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án
Về"hôn"nhân: Xử cho anh Lê Hữu D được ly hôn chị Nguyễn Thùy L.
Về"con: Anh Lê Hữu D, chị Nguyễn Thùy L không có con chung.
Về"tài"sản,"công"nợ: Tòa án không xem xét giải quyết.
Án"phí: Anh Lê Hữu D phải nộp 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ anh D đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0003167 ngày 30/6/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa (anh D đã nộp đủ tiền án phí).
Anh Lê Hữu D có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; chị Nguyễn Thùy L có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc ngày niêm yết bản án.
| Nơi nhận:! - Các đương sự; - VKSND TPTH; - THA DS TP.Thanh Hoá; ! - UBND phường Đông Hương, TP. Thanh Hóa; - Lưu HS.! HỘI!ĐỒNG!XÉT!XỬ!SƠ!THẨM Hội!thẩm!nhân!dân! Nguyễn!Thị!Hạnh!!!!!!!!!!Lê!Cát!Tưởng! | T.M!HỘI!ĐỒNG!XÉT!XỬ!SƠ!THẨM! THẨM!PHÁN!-!!CHỦ!TỌA!PHIÊN!TÒA ! (đã!ký)! ! ! Phạm!Văn!Hào! Thẩm!phán!–!Chủ!tọa!phiên!tòa! !! ! Phạm!Văn!Hào! |