vanban.org

Bản án 106/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận anh N V B và anh L T K T là vợ

Về con chung: Giao cháu N D A, sinh ngày 19/11/2009 cho chị T được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Anh B có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận anh N V B và anh L T K T là vợ
  • Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHƢỚC LONG
TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 106/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 28/7/2023
V/v tranh chấp ly hôn và nuôi con

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƢỚC LONG – TỈNH BẠC LIÊU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Đẹp

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trƣơng Hoàng Diệu

Ông Mai Quốc Bảo

Thư ký phiên tòa: Ông Ngô Văn Trƣờng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Bà Lý Thị Nhiên – Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phước Long, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 149/2023/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 4 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn và nuôi con" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 169/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 6 năm 2023 giữa:

Nguyên đơn: Anh N V B, sinh năm 1975.

Địa chỉ chỗ ở: Ấp Mỹ 1, xã Vĩnh Phú Đông, huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu.

Bị đơn: Chị L T K T, sinh năm 1973.

Địa chỉ: Ấp Phước Thuận 1, thị trấn Phước Long, huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu.

(anh B vắng mặt có yêu cầu xét xử vắng mặt, chị T vắng mặt không lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện ngày 12/01/2023 và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn anh N V B trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị T xây dựng hôn nhân từ năm 2000, hôn nhân

tự nguyện nhưng không có đi đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Anh và chị T đã ly thân từ năm 2013 đến nay. Lý do ly thân là vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẩn từ đó cuộc sống chung vợ chồng không hạnh phúc, từ khi ly thân hai bên không gặp nhau hàng gắn hôn nhân. Anh B xác định giữa anh và chị T không còn tình cảm, không thể tiếp tục chung sống vợ chồng nên anh yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị T.

Về con chung: Chung sống vợ chồng anh và chị T có ba người con chung là N T B B, sinh ngày 19/01/2001, N T V, sinh ngày 03/01/2004 và cháu N D A, sinh ngày 19/11/2009, khi ly hôn cháu Bé Ba, cháu Vi đã trưởng thành anh không yêu cầu Tòa án giải quyết, còn cháu Duy Anh đang sống chung với chị T, anh giao cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng, nhưng anh không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn chị L T K T :

Chị T được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không đến Tòa án nên Tòa

án không lấy lời khai và không ghi nhận được ý kiến.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phước Long trình bày quan điểm:

- Về tố tụng: Thẩm phán, thư ký và Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với đương sự từ khi tham gia tố tụng đến nay, nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình. Bị đơn không thực hiện đúng theo giấy triệu tập của Tòa án.

- Về nội dung:

+ Về hôn nhân: Không công nhận anh N V B và anh L T K T là vợ chồng.

+ Về con chung: Giao cháu N D A, sinh ngày 19/11/2009 cho chị T trực tiếp

chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Anh B có quyền thăm nom con chung không ai được cản trở. Về cấp dưỡng không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

+ Về tài sản chung và nợ chung: Do đương sự không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.

+ Về án phí: Anh B phải chịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; sau khi nghe ý kiến phát biểu đề xuất của Kiểm sát viên, sau khi thảo luận, nghị án, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Anh B yêu cầu ly hôn, nuôi con với chị T, chị T có địa chỉ tại huyện Phước

Long, tỉnh Bạc Liêu nên căn cứ Điều 28, 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu.

Chị T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt

không có lý do, anh B có yêu cầu xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh B, chị T là phù hợp với quy định tại Điều 228 và Điều 238 của Bộ Luật tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Anh B và chị T tự nguyện sống chung như vợ chồng, mặc dù đủ điều kiện đăng ký kết hôn, nhưng không đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật, đây là hôn nhân không hợp pháp, không được pháp luật công nhận và bảo vệ. Nay anh B yêu cầu ly hôn với chị T, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 14 và khoản 2 Điều 53 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 không công nhận anh B và chị T là vợ chồng.

Về con chung: Khi ly hôn anh B đồng ý giao cháu N D A, sinh ngày

19/11/2009 cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng, anh B không cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy cháu Duy Anh hiện tại đã trên 07 tuổi, theo quy định của pháp luật phải hỏi ý kiến của cháu về nguyện được sống cùng với cha hay sống cùng với mẹ. Tuy nhiên, Tòa án đã xác minh chị T không hợp tác nên không ghi nhận ý kiến của cháu. Từ khi ly thân đến nay chị T là người trực tiếp nuôi dưỡng con chung, chăm sóc tốt cho cháu và anh B đã tự nguyện giao cháu Duy Anh cho chị T được tiếp tục nuôi dưỡng, nên Hội đồng xét xử giao cháu N D A, sinh ngày 19/11/2009 cho chị T được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Anh B có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

Về cấp dưỡng: Đương sự không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Anh B không yêu cầu nên không xem xét giải quyết trong vụ án này.

Với những phân tích trên xét đề nghị của kiểm sát viên là có căn nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Anh B phải chịu 300.000đ án phí

không giá ngạch.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ vào các Điều 14, 53, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận anh N V B và anh L T K T là vợ

chồng.

2. Về con chung: Giao cháu N D A, sinh ngày 19/11/2009 cho chị T được tiếp

tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Anh B có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

Về cấp dưỡng: Đương sự không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.

3. Tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

4. Về án phí: Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm anh B phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn không có giá ngạch là 300.000đ. Anh B đã nộp tiền tạm ứng án phí số tiền 300.000đ theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0012649 ngày 25 tháng 4 năm 2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phước Long nên được chuyển thu án phí trong giai đoạn thi hành án. Chị T không phải chịu án phí.

5. Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt thời hạn kháng cáo 15 ngày tính kể từ ngày nhận hoặc niêm yết công khai bản án./.

Cỡ chữ