- Tranh chấp gì? án hành chính — "Nguyễn Thành Đ Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý Nhà nước về đất đai” Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Long An; Ủy ban…"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thành Đ đối với UBND huyện Cần Đước về việc “khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý Nhà nước về đất đai”.
- Căn cứ chính? Điều 100 Luật Đất đai; Điều 101 Luật Đất đai; Điều 105 Luật Đất đai
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 106/2023/HC-ST Ngày 24-8-2023 V/v khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý Nhà nước về đất đai |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Quán
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Tôn Thọ Nuôi
2. Ông Nguyễn Hoàng Huy
- Thư ký phiên tòa: Ông Hà Tấn Phong – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa: ông Võ Thanh Bình - Kiểm sát viên
Ngày 24 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 71/2023/TLST-HC ngày 29 tháng 3 năm 2023 về “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý Nhà nước về đất đai”.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 150/2023/QĐXXST-HC ngày 09 tháng 8 năm 2023 giữa các đương sự:
1. Người khởi kiện: ông Nguyễn Thành Đ, sinh năm 1962;
Địa chỉ: ấp 7, xã PT, huyện CĐ, tỉnh Long An.
2. Người bị kiện: Ủy ban nhân dân huyện Cần Đước, tỉnh Long An.
Địa chỉ: Khu 1A, thị trấn Cần Đước, huyện Cần Đước, tỉnh Long An.
Người đại diện theo pháp luật: ông Huỳnh Văn Quang H – Chủ tịch UBND huyện Cần Đước
Người đại diện theo ủy quyền: ông Đào Hữu T – Phó Chủ tịch UBND huyện Cần Đước.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: ông Hồ Hoàng H2 – Trưởng phòng Phòng TN&MT huyện Cần Đước
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1960; Địa chỉ: ấp 7, xã PT, huyện CĐ, tỉnh Long An.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Người khởi kiện ông Nguyễn Thành Đ trình bày tại đơn khởi kiện ghi ngày 13/7/2022 như sau:
Ông Nguyễn Thành Đ sử dụng diện tích đất lúa khoảng 5.000m2 có nguồn gốc của cha mẹ là ông Nguyễn Văn L và bà Trần Thị C để lại. Ông Đ sống với cha mẹ từ nhỏ, canh tác cho đến năm 2003 được cha mẹ làm thủ tục tặng cho. Ông Đ UBND huyện Cần Đước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số W486029 ngày 09/3/2003 đối với thửa đất số 2564, tờ bản đồ (TBĐ) số 1, diện tích 5.200m2, loại đất lúa.
Thửa đất của ông Đ giáp ranh thửa đất lúa 934, diện tích 9.085m2 của bà Ngô Thị Đ, hai bên có ranh giới rõ ràng là bờ đất khoảng 0,5m. Tháng 2/2022, bà Ngô Thị Đ chia đất cho con, nhờ cơ quan đo đạc thì phát hiện thửa đất của ông Đ bị UBND huyện Cần Đước cấp chung trong thửa đất của bà Đ nên không đo được. Lúc này ông Đ mới biết thửa đất 2564, TBĐ số 1, diện tích 5.200m2 ông Đ cấp năm 2003 không đúng vị trí.
Bà Nguyễn Thị Đổi khiếu nại đến UBND huyện Cần Đước thì nhận được Công văn số 2791 ngày 10/5/2022 trả lời: do nguồn gốc thửa đất 934, TBĐ số 1, diện tích 9.085m2, loại đất chuyên trồng lúa nước tọa lạc tại xã Phước Tuy được nhận quyền sử dụng đất là do chuyển nhượng quyền sử dụng đất là không thuộc thẩm quyền giải quyết của UBND huyện Cần Đước.
Do đất của ông Đ sử dụng có nguồn gốc rõ ràng, cha mẹ sử dụng trước năm 1975 tặng cho lại từ năm 2003, không tranh chấp nhưng Ủy ban nhân dân huyện Cần Đước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Lâm Thị Trọng vào năm 1998. Sau đó bà Trọng chuyển nhượng lại cho bà Ngô Thị Đ vào năm 2009 là không đúng đối tượng. Bà Trọng đã chết năm 2012.
Ông Nguyễn Thành Đ khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:
1. Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho bà Lâm Thị Trọng số M101889 ngày 26/02/1998 của Ủy ban nhân dân huyện Cần Đước đối với thửa 934, tờ bản đồ số 1, diện tích 9.085m2 tọa lạc tại xã Phước Tuy, huyện Cần Đước, tỉnh Long An.
2. Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số W 486029 của Ủy ban nhân dân huyện Cần Đước cấp cho ông Nguyễn Thành Đ đối với thửa 2564, tờ bản đồ số 1, diện tích 5.200m2 tọa lạc tại xã Phước Tuy, huyện Cần Đước, tỉnh Long An.
3. Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của Ủy ban nhân dân huyện Cần Đước cấp cho bà Ngô Thị Đ số BA 290664 ngày 29/12/2009 đối với thửa 934, tờ bản đồ số 1, diện tích 9.085m2 tọa lạc tại xã Phước Tuy, huyện Cần Đước, tỉnh Long An.
Ngày 12/7/2023 ông Nguyễn Thành Đ rút một phần yêu cầu khởi kiện không yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số M101889 của Ủy ban nhân dân huyện Cần Đước cấp ngày 26/02/1998 cho bà Lâm Thị Trọng đối với thửa 934, tờ bản đồ số 1, diện tích 9.085m2 tọa lạc tại xã Phước Tuy, huyện Cần Đước, tỉnh Long An do giấy đã bị thu hồi khi chuyển nhượng cho bà Đ.
Người bị kiện Ủy ban nhân dân huyện Cần Đước có ý kiến tại Văn bản số 2928/UBND-TD ngày 11/5/2023 như sau:
Theo văn bản số 2296/CN.VPĐKĐĐ-KTLT ngày 25/4/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện Cần Đước về việc cung cấp thông tin thì hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Lâm Thị Trọng đối với thửa 934, tờ bản đồ số 1, diện tích 9.085m2 tọa lạc tại xã Phước Tuy, huyện Cần Đước, tỉnh Long An đã bị thất lạc.
Ngày 29/12/2009, Ủy ban nhân dân huyện Cần Đước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hồ sơ gốc số số BA 290664 cấp ngày 29/12/2009 đối với thửa 934, tờ bản đồ số 1, diện tích 9.085m2 tọa lạc tại xã Phước Tuy, huyện Cần Đước, tỉnh Long An là trên cơ sở hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Lâm Thị Trọng với bà Ngô Thị Đ, được Ủy ban nhân dân xã Phước Tuy chứng thực ngày 27/11/2009, chứng thực số 129, quyển số 01TP/CC-SCT/HĐGD.
Năm 2002, Ủy ban nhân dân huyện Cần Đước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số W 486029 cho ông Nguyễn Thành Đ đối với thửa 2564, tờ bản đồ số 1, diện tích 5.200m2 tọa lạc tại xã Phước Tuy, huyện Cần Đước, tỉnh Long An là trên cơ sở hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Văn Lực với ông Nguyễn Thành Đ, được Ủy ban nhân dân xã Phước Tuy chứng thực ngày 05/11/2002, UBND huyện Cần Đước xác nhận ngày 14/11/2002.
Việc người khởi kiện yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số M101889 của Ủy ban nhân dân huyện Cần Đước cấp ngày 26/02/1998 cho bà Lâm Thị Trọng đối với thửa 934, tờ bản đồ số 1, diện tích 1.085m2 tọa lạc tại xã Phước Tuy, huyện Cần Đước; Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BA 290664 của UBND huyện Cần Đước cấp ngày 29/12/2009 cho bà Ngô Thị Đ đối với thửa 934, tờ bản đồ số 1, diện tích 1.085m2 tọa lạc tại xã Phước Tuy; Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số W 486029 của UBND huyện Cần Đước cấp năm 2002 cho ông Nguyễn Thành Đ đối với thửa 2564, tờ bản đồ số 1, diện tích 5.200m2 tọa lạc tại xã Phước Tuy, huyện Cần Đước. Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Long An xét xử theo quy định.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Ngô Thị Đ yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án, không trình bày thêm ý kiến.
Ngày 29/3/2023, Tòa án nhân dân tỉnh Long An thụ lý vụ án.
Tòa án tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, công khai chứng cứ và lập biên bản không đối thoại được.
Tại phiên toà, các đương sự vắng mặt, có yêu cầu xin xét xử vắng mặt trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An phát biểu:
Người khởi kiện; người bị kiện và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu xét xử vắng mặt nên căn cứ điều 157 Luật tố tụng Hành chính năm 2015 Hội đồng xét xử vẫn tiến hành tố tụng. Các bên đương sự thực hiện đúng tố tụng về quyền và nghĩa vụ theo quy định của Luật tố tụng hành chính năm 2015.
Về trình tự, thủ tục đảm bảo theo quy định của tố tụng. Việc thụ lý, xác định đối tượng khởi kiện; Việc thu thập chứng cứ, xác minh, công khai chứng cứ đảm bảo, được thực hiện đầy đủ. Phía người bị kiện xin vắng nên không đối thoại được. Tại phiên tòa, Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử thực hiện đúng chức năng nhiệm vụ và quyền hạn.
Về thời hiệu: Năm 2022, bà Ngô Thị Đ phát hiện một phần thửa 934 do ông Đ quản lý sử dụng. Lúc này ông Đ mới biết việc UBND huyện Cần Đước cấp cho ông thửa 2564 là không đúng vị trí thực tế sử dụng. Ngày 13/7/2022, ông Đ nộp đơn trực tiếp tại TAND tỉnh Long An. Đến ngày 29/3/2023, TAND tỉnh Long An thụ lý vụ án. Thời hiệu khởi kiện đảm bảo đúng quy định tại điểm a, khoản 2, Điều 116, Luật tố tụng hành chính.
Về nguồn gốc thửa đất số 934, tờ bản đồ số 1, tọa lạc tại xã Phước Tuy, huyện Cần Đước, bà Đ đang đứng tên trên giấy chứng nhận là do bà Đ nhận chuyển nhượng từ bà Lâm Thị Trọng, thông qua Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 27/11/2009 được UBND xã Phước Tuy xác nhận.
Về nguồn gốc thửa đất số 2564, tờ bản đồ số 1, tọa lạc tại xã Phước Tuy, huyện Cần Đước, ông Đ đang đứng tên trên giấy chứng nhận là do ông Đ nhận từ ông Nguyễn Văn Lực, thông qua Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 05/11/2002 được UBND xã Phước Tuy xác nhận.
Căn cứ Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 03/7/2023, tại thửa đất số 934, tờ bản đồ số 1, tọa lạc tại xã Phước Tuy, huyện Cần Đước, có hiện trạng đang trồng lúa. Giữa phần đất bà Đ và ông Đ có ranh giới rõ ràng, các bên thống nhất không tranh chấp. Vị trí ranh giới được xác định theo Mảnh trích đo của Công ty Hưng Phú.
Tại Mảnh trích đo địa chính ngày 01/8/2023 thể hiện bà Ngô Thị Đ sử dụng một phần thửa 934 (khu A), ông Nguyễn Thành Đ sử dụng một phần thửa 934 (khu B). Do khi cấp đổi giấy từ bà Trọng sang bà Đ, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số M 101889 do UBND huyện Cần Đước cấp ngày 26/02/1998 cho bà Lâm Thị Trọng đối với thửa đất số 934, tờ bản đồ số 1, diện tích 9085 m2 đã bị thu hồi nên ngày 12/7/2023, ông Đ có đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với yêu cầu hủy GCNQSDĐ trên.
Nhận thấy, việc UBND huyện Cần Đước khi cấp giấy chứng nhận QSDĐ thửa 934 cho bà Ngô Thị Đ và thửa 2654 cho ông Nguyễn Thành Đ đã tuân thủ đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục về cấp đất. Tuy nhiên, UBND huyện Cần Đước chỉ xem xét trên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Trọng với bà Đ và hợp đồng chuyển nhượng đất giữa ông Lực với ông Đ nhưng không tiến hành xem xét thực tế phần diện tích đất của từng người quản lý sử dụng thửa, dẫn đến việc cấp giấy không đúng đối tượng sử dụng đất.
Do thửa đất đã thực hiện thủ tục chuyển nhượng nên thẩm quyền giải quyết của TAND tỉnh Long An. Căn cứ quy định khoản 5, khoản 6, Điều 87 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai
Từ đó đề nghị áp dụng Khoản 2 Điều 193 Luật tố tụng Hành chính năm 2015 chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thành Đ. Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BA 290664 cấp ngày 29/12/2009 cho bà Ngô Thị Đ đối với thửa 934, tờ bản đồ số 1, diện tích 9.085m2 tọa lạc tại xã Phước Tuy; Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số W 486029 cấp năm 2002 cho ông Nguyễn Thành Đ đối với thửa 2564, tờ bản đồ số 1, diện tích 5.200m2 tọa lạc tại xã Phước Tuy, huyện Cần Đước.
Buộc UBND huyện Cần Đước chịu án phí theo quy định. (Có văn bản kèm theo)
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về đối tượng khởi kiện, thẩm quyền.
Ông Nguyễn Thành Đ khởi kiện yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của Ủy ban nhân dân huyện Cần Đước cấp cho bà Nguyễn Thị Đổi và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông Đ do không đúng đối tượng, vị trí sử dụng và diện tích. Đây là khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý Nhà nước về đất đai, đối tượng khởi kiện hành chính quy định tại Điều 30 Luật tố tụng hành chính năm 2015 thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án.
Do quyết định hành chính là của UBND huyện Cần Đước nên Tòa án nhân dân tỉnh Long An giải quyết theo thủ tục sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 32 Luật tố tụng Hành chính năm 2015.
Ông Nguyễn Thành Đ không yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Lâm Thị Trọng và bà Ngô Thị Đ nên căn cứ Điều 8 Luật tố tụng Hành chính năm 2015 và Điều 5 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 Toà án chỉ xét xử theo yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện.
Về thời hiệu.
Tháng 2/2022, ông Nguyễn Thành Đ biết được thửa đất 2564, TBĐ số 1, diện tích 5.200m2 ông Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào năm 2003 không đúng vị trí. Ngày 10/5/2022, UBND huyện Cần Đước trả lời không thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho bà Ngô Thị Đ.
Ngày 29/3/2023, ông Nguyễn Thành Đ khởi kiện. Căn cứ Điều 116 Luật tố tụng Hành chính năm 2015, Tòa án xác định trong thời hiệu.
Về tư cách tố tụng, việc ủy quyền
Ông Nguyễn Thành Đ khởi kiện Ủy ban nhân dân huyện Cần Đước, tỉnh Long An nên xác định ông Nguyễn Thành Đ là người khởi kiện; Ủy ban nhân dân huyện Cần Đước là người bị kiện.
Yêu cầu hủy quyết định hành chính (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) có liên quan đến bà Ngô Thị Đ, ông Lâm Văn Phương nên các đương sự được đưa vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Bà Lâm Thị Trọng đã chết năm 2012, do đây là vụ án hành chính nên không đưa người thừa kế vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Người bị kiện ủy quyền đúng đối tượng theo Điều 60 Luật tố tụng Hành chính năm 2015 nên được chấp nhận.
Về đối thoại và công khai chứng cứ
Người bị kiện có yêu cầu giải quyết vắng mặt nên Tòa án lập biên bản không tiến hành đối thoại được; công khai chứng cứ theo quy định tại Điều 135, Điều 138 Luật tố tụng Hành chính năm 2015.
Việc xét xử vắng mặt đương sự.
Người khởi kiện xin xét xử vắng mặt; Người đại diện theo ủy quyền của người bị kiện UBND huyện Cần Đước có văn bản xin vắng mặt; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được triệu tập hợp lệ, có yêu cầu giải quyết vắng mặt nên căn cứ Điều 157 Luật tố tụng Hành chính 2015 Tòa án vẫn xét xử.
Về yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thành Đ.
Ông Nguyễn Thành Đ yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số W 486029 của Ủy ban nhân dân huyện Cần Đước cấp cho ông Nguyễn Thành Đ đối với thửa 2564, tờ bản đồ số 1, diện tích 5.200m2 tọa lạc tại xã Phước Tuy, huyện Cần Đước, tỉnh Long An; Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của Ủy ban nhân dân huyện Cần Đước cấp cho bà Ngô Thị Đ số BA 290664 ngày 29/12/2009 đối với thửa 934, tờ bản đồ số 1, diện tích 9.085m2 tọa lạc tại xã Phước Tuy, huyện Cần Đước, tỉnh Long An.
Xét thấy:
Ông Nguyễn Thành Đ được Ủy ban nhân dân huyện Cần Đước giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số W 486029 đối với thửa 2564, tờ bản đồ số 1, diện tích 5.200m2 tọa lạc tại xã Phước Tuy, huyện Cần Đước, tỉnh Long An. Nguồn gốc đất được cha mẹ là ông Nguyễn Văn Lực và bà Trần Thị Chính để lại thông qua Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 05/11/2002 được UBND xã Phước Tuy xác nhận.
Bà Ngô Thị Đ được UBND huyện Cần Đước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất 934, TBĐ số 1, diện tích 9.085m2, loại đất chuyên trồng lúa. Nguồn gốc đất do nhận chuyển nhượng từ bà Lâm Thị Trọng thông qua Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 27/11/2009 được UBND xã Phước Tuy xác nhận.
Căn cứ Biên bản thẩm định tại chỗ ngày 03/7/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An thể hiện hiện trạng thửa 934, tờ bản đồ số 1 tại xã Phước Tuy đang trồng lúa; Phần đất giữa bà Đ và ông Đ có ranh giới rõ ràng các bên thống nhất không tranh chấp. Vị trí, ranh giới được xác định tại Mảnh trích đo địa chính của Công ty TNHH đo đạc Nhà đất Hưng Phú .
Căn cứ vào Mảnh trích đo địa chính ngày 01/8/2023 của Công ty TNHH đo đạc Nhà đất Hưng Phú, thửa 934, tờ bản đồ số 1 có 02 phần. Một phần diện tích 8.956m2 (vị trí A) do bà Ngô Thị Đ trực tiếp quản lý sử dụng; Phần còn lại diện tích 5.454m2 (vị trí B) do ông Nguyễn Thành Đ trực tiếp quản lý sử dụng. Giữa các diện tích đất có ranh giới rõ ràng, bà Đ va ông Đ không tranh chấp.
Tuy nhiên, UBND huyện Cần Đước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số W 486029 cho ông Nguyễn Thành Đ đối với thửa 2564, tờ bản đồ số 1, diện tích 5.200m2 tọa lạc tại xã Phước Tuy, huyện Cần Đước, tỉnh Long An và cấp cho bà Ngô Thị Đ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BA 290664 cấp ngày 29/12/2009 đối với thửa 934, tờ bản đồ số 1, diện tích 9.085m2 tọa lạc tại xã Phước Tuy, huyện Cần Đước, tỉnh Long An là không đúng đối tượng, không phù hợp quy định của Điều 50, Điều 105 Luật Đất đai năm 2003.
Tại Công văn số 2791 ngày 10/5/2022 của UBND huyện Cần Đước trả lời: do nguồn gốc thửa đất 934, TBĐ số 1, diện tích 9.085m2, loại đất chuyên trồng lúa nước tọa lạc tại xã Phước Tuy được nhận quyền sử dụng đất là do chuyển nhượng quyền sử dụng đất là không thuộc thẩm quyền giải quyết của UBND huyện Cần Đước.
Theo điểm d Khoản 2 Điều 106 Luật Đất đai năm 2013, UBND huyện Cần Đước không thu hồi trong trường hợp này nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thành Đ. Áp dụng điểm b Khoản 2 Điều 193 Luật tố tụng Hành chính năm 2015 hủy các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số W 486029 của Ủy ban nhân dân huyện Cần Đước cấp cho ông Nguyễn Thành Đ đối với thửa 2564, tờ bản đồ số 1, diện tích 5.200m2 tọa lạc tại xã Phước Tuy, huyện Cần Đước, tỉnh Long An; Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của Ủy ban nhân dân huyện Cần Đước cấp cho bà Ngô Thị Đ số BA 290664 cấp ngày 29/12/2009 đối với thửa 934, tờ bản đồ số 1, diện tích 9.085m2 tọa lạc tại xã Phước Tuy, huyện Cần Đước, tỉnh Long An.
Người sử dụng đất được thực hiện quyền của người sử dụng đất để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định tại Điều 166 Luật Đất đai năm 2013 của pháp luật về đất đai. UBND huyện Cần Đước thực hiện hành vi cấp quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất theo quy định của Điều 100, Điều 101 Luật Đất đai năm 2013.
Đề nghị của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An là có cơ sở.
Về chi phí tố tụng thẩm định và đo đạc: 8.400.000đ. ông Nguyễn Thành Đ chịu, đã nộp xong.
Về án phí Hành chính sơ thẩm: áp dụng Điều 348 Luật tố tụng Hành chính năm 2015 và Điều 12, Điều 32 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội hướng dẫn về án phí, lệ phí Tòa án, ông Nguyễn Thành Đ không phải chịu tiền án phí, thuộc diện miễn, không nộp tạm ứng án phí nên không hoàn trả tiền tạm ứng đã nộp. Buộc UBND huyện Cần Đước chịu và nộp.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 3, Điều 30, Điều 32 Luật tố tụng Hành chính 2015;
Áp dụng Điều 50, Điều 105 Luật Đất đai năm 2003; điểm b Khoản 2 Điều 193, Điều 358 và Điều 348 Luật tố tụng Hành chính năm 2015; các điều 100, 101, 166 Luật Đất đai năm 2013;
Áp dụng Điều 32 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thành Đ đối với UBND huyện Cần Đước về việc “khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý Nhà nước về đất đai”.
1.1. Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số W 486029 của Ủy ban nhân dân huyện Cần Đước cấp cho ông Nguyễn Thành Đ đối với thửa 2564, tờ bản đồ số 1, diện tích 5.200m2 tọa lạc tại xã Phước Tuy, huyện Cần Đước, tỉnh Long An.
1.2. Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của Ủy ban nhân dân huyện Cần Đước cấp cho bà Ngô Thị Đ số BA 290664 cấp ngày 29/12/2009 đối với thửa 934, tờ bản đồ số 1, diện tích 9.085m2 tọa lạc tại xã Phước Tuy, huyện Cần Đước, tỉnh Long An.
1.3. Ông Nguyễn Thành Đ và bà Ngô Thị Đ được thực hiện quyền của người sử dụng đất để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo Điều 166 Luật Đất đai năm 2013.
1.4. UBND huyện Cần Đước thực hiện hành vi công vụ cấp quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất theo quy định của Điều 100, Điều 101 Luật Đất đai năm 2013.
2. Về chi phí thẩm định, đo đạc: 8.400.000đ. Ông Nguyễn Thành Đ chịu, đã nộp xong.
3. Về án phí Hành chính sơ thẩm:
Ông Nguyễn Thành Đ không phải chịu, không nộp tiền tạm ứng án phí nên không hoàn trả.
Buộc UBND huyện Cần Đước chịu và nộp 300.000đ.
4. Án xét xử công khai sơ thẩm, báo cho đương sự có mặt biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt hợp lệ được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao án hoặc bản án được niêm yết./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Long An; - Cục THADS tỉnh Long An; - Đương sự; - Lưu. Thành viên Hội đồng xét xử Nguyễn Hoàng Huy – Tôn Thọ Nuôi | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trần Văn Quán Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Văn Quán |