- Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "hợp đồng góp hụi"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn ông Trần Minh C đối với bị đơn bà Lê Diệu L và người có quyền lợi nghĩa, vụ liên quan ông Lê Văn T;
- Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 106/2023/DS-ST Ngày 20 tháng 6 năm 2023 “V/v Tranh chấp Hợp đồng góp hụi” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Kiên.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Hồng, bà Hoàng Thị Thiện Lai;
Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Thảo, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thụy Thùy Trang – Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 55/2023/TLST-DS ngày 06 tháng 3 năm 2023 về việc “Tranh chấp Hợp đồng góp hụi”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 162/2023/QĐXXST-DS ngày 11 tháng 5 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 263/2023/QĐST- DS ngày 29 tháng 5 năm 2023, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: ông Trần Minh C, sinh năm 1947; địa chỉ: ấp H, xã K, huyện C, tỉnh An Giang.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Trần Minh C: Hoa Thị H, sinh năm 1956; địa chỉ: ấp H, xã K, huyện C, tỉnh An Giang (theo Văn bản ủy quyền ngày 10/3/2023 của Văn phòng C1, tỉnh An Giang chứng nhận); có mặt.
2. Bị đơn: Bà Lê Diệu L, sinh năm 1982; địa chỉ: ấp H, xã K, huyện C, tỉnh An Giang; có mặt.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Lê Văn T (3 T1), sinh năm 1975; địa chỉ ấp H, xã K, huyện C, tỉnh An Giang; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, tờ tự khai và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bà Hoa Thị H, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày, ông C là người tham gia 03 dây hụi do bà Lê Diệu L và ông Lê Văn T (3 T1) làm chủ hụi, dây hụi 2.000.000 đồng, khởi khui ngày 15/8/2019 âm lịch (tại đơn khởi kiện ghi ngày 10/8/2019 là chưa chính xác), chầu hụi vào ngày 15 âm lịch hàng tháng, tham gia 02 chân hụi, dây hụi có 36 hụi viên, ông C chầu được 19 phần hụi sống, cả 02 chân hụi là hụi sống, số tiền của 02 chân hụi là 54.720.000 đồng. Dây hụi 2.000.000 đồng, khởi khui ngày 15/8/2020 âm lịch, bắt đầu chầu vào 20/8/2020 âm lịch, và tiếp tục chầu các tháng sau vào ngày 20 hàng tháng, có 36 hụi viên tham gia 01 chân, ông C chầu 19 hụi sống, không thực hiện khui hụi theo định kỳ nữa; nếu ai hốt hụi phải chi cho chủ hụi số tiền là 1.000.000đồng theo sự đồng thuận của các hụi viên; tổng số tiền đã chầu 27.440.000 đồng. Dây hụi 1.000.000đồng, khởi khui ngày 15/8/2020 âm lịch, bắt đầu góp hụi ngày 20/8/2020 âm lịch, chầu các tháng tiếp theo vào ngày 20 âm lịch hàng tháng, gồm có 39 hụi viên, ông C chầu được 19 lần hụi sống, ông C tham gia 01 phần hụi, dây hụi này nếu ai hốt hụi thì phải nộp hoa hồng cho chủ hụi là 500.000đồng. Số tiền hụi đã chầu là 12.520.000 đồng; các dây hụi đã ngưng chầu, do đến ngày 10/5/2022 bà L, ông T tuyên bố ngưng không thu hụi nữa. Tổng số tiền đã chầu của cả 03 dây hụi mà ông C đã chầu là 94.680.000 đồng (chín mươi tư triệu, sáu trăm tám mươi nghìn đồng), vẫn giữ nguyên yêu cầu không tính lãi.
Bị đơn bà Lê Diệu L trình bày: thống nhất như lời trình bày của đại diện nguyên đơn, cũng như yêu cầu của nguyên đơn đã trình bày tại đơn khởi kiện, thống nhất số tiền ông C đã chầu là 94.680.000 đồng (chín mươi tư triệu, sáu trăm tám mươi nghìn đồng).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Văn T vắng mặt, không ghi nhận được ý kiến.
Tại phiên tòa:
- Bà H đại diện của nguyên đơn trình bày ý kiến, yêu cầu như đã cung cấp trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và xác định không có tài liệu, chứng cứ khác giao nộp cho Tòa án chứng minh cho ý kiến, yêu cầu của mình, không thay đổi nội dung yêu cầu khởi kiện, bà H cũng xác định trong thời gian chầu hụi, ông T nhiều lần trực tiếp thu hụi của bà thay cho bà L.
- Bà Lê Diệu L xác định các tài liệu, chứng cứ Tòa án đã công khai là đúng, công nhận số tiền nợ hụi, không có tài liệu chứng cứ khác giao nộp cho Tòa án, cũng như không có yêu cầu khác để chứng minh cho quyền, nghĩa vụ của mình, tại phiên tòa bà L thừa nhận đến nay còn nợ ông C số tiền hụi như đại diện theo ủy quyền của ông C đã trình bày, cũng như xác định việc ông T biết bà là chủ hụi và có thực hiện thu hụi giúp bà tại các dây hụi.
- Ông Lê Văn T vắng mặt tại phiên tòa, không ghi nhận được ý kiến.
- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, Bị đơn đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 71 và 234 Bộ luật Tố tụng dân sự. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Văn T vắng mặt lần thứ 2, nên đề nghị xét xử vắng mặt.
Về việc giải quyết vụ án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Minh C; buộc bà Lê Diệu L và ông Lê Văn T liên đới trả ông Trần Minh C 94.680.000 đồng, lãi suất do ông C không yêu cầu, nên không đề cập xem xét, giải quyết.
Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại các 471 Bộ luật Dân sự, Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình xem xét, quyết định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng:
Ông Trần Minh C và bà Lê Diệu L hiện đang cư trú trên địa bàn huyện C, giữa ông C, bà L có quan hệ góp hụi, nên Hội đồng xét xử thống nhất quan hệ tranh chấp để giải quyết vụ án là “tranh chấp về Hợp đồng góp hụi” theo quy định tại khoản 3 Điều 26, về thẩm quyền giải quyết vụ án xác định theo điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự. Do đó, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới.
Về sự vắng mặt của đương sự: Ông Lê Văn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2, nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt ông T.
Về nội dung: [2.1] Xác định tiền hụi: giữa ông Trần Minh C và bà Lê Diệu L có quan hệ góp hụi (họ) theo đó bà L là chủ hụi, ông C là hụi viên. Quá trình giải quyết vụ án cả ông C và bà L đều thống nhất việc ông C có tham gia dây các dây hụi vào ngày 15/8/2019 âm lịch, 15/8/2020 âm lịch; 15/8/2020 âm lịch; thống nhất số tiền do vợ chồng bà L còn nợ hụi của ông C là 94.680.000 đồng (chín mươi tư triệu, sáu trăm tám mươi nghìn đồng). Như vậy, việc ông C, bà L đều công nhận việc chầu hụi, khui hụi, số lần chầu, số tiền còn nợ nên đây là tài liệu, chứng cứ không cần chứng minh theo quy định tại Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Theo quy định tại Điều 471 Bộ luật Dân sự; Điều 15, 18 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ, thì người có nghĩa vụ, chủ hụi phải có nghĩa vụ thanh toán số tiền hụi còn thiếu cho hụi viên, nên việc bà L thừa nhận còn nợ tiền hụi của ông C; cho nên bà L phải có nghĩa vụ thanh toán theo quy định tại các Điều 351, 352, 357 Bộ luật Dân sự. Ngoài ra, việc cả ông C, bà L đều thống nhất về phương thức chơi hụi, thời gian đóng hụi, hốt hụi, chầu hụi và số tiền nợ hụi theo tài liệu, chứng cứ mà ông C đã cung cấp. Vì vậy, việc ông C khởi kiện là có cơ sở xem xét.
Về trách nhiệm liên đới: Theo quy định tại Điều 25, 27, 30 Luật Hôn nhân và gia đình, thì vợ chồng phải có nghĩa vụ liên đới đối với giao dịch do một bên thực hiện, nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình, cho nên việc ông C, cùng bà L đều xác nhận việc ông T biết việc bà L là chủ hụi, ông T cũng có thực hiện việc thu hụi, bà L xác định việc thu tiền hụi là dùng vào mục đích chung cho gia đình. Vì vậy, việc ông C yêu cầu ông T phải có trách nhiệm liên đới là có căn cứ; nên ông T phải có nghĩa vụ liên đới cùng bà L theo quy định tại Điều 288 Bộ luật dân sự và Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình. Hơn nữa, giữa ông T với bà L có đăng ký kết hôn từ năm 2002, ông T trong quá trình tố tụng đã được tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng của Tòa án, nhưng ông không có ý kiến, có nghĩa ông đã tự từ bỏ quyền, nghĩa vụ tố tụng của mình. Do đó, có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông C về việc buộc bà bà L, ông T phải có trách nhiệm liên đới thanh toán cho ông C số tiền 94.680.000 đồng (chín mươi tư triệu, sáu trăm tám mươi nghìn đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Về án dân sự sơ thẩm:
- Do yêu cầu khởi kiện của ông Trần Minh C được chấp nhận nên không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hơn nữa ông C có đơn xin miễn giảm án phí, do là người cao tuổi, nên thuộc trường hợp miễn án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Do vậy ông không phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
- Bà Lê Diệu L, ông Lê Văn T phải liên đới chịu án phí tương ứng với số tiền mà ông C được chấp nhận theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quyền kháng cáo: Theo quy định tại Điều 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự các đương sự có quyền kháng cáo Bản án, quyết định của Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 351, 352, 357, 288, 468, 471 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 27, 30 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 144, 147, 227, 271, 273 và Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Căn cứ Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2020 về hụi, họ, điêu, phường của Chính phủ.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn ông Trần Minh C đối với bị đơn bà Lê Diệu L và người có quyền lợi nghĩa, vụ liên quan ông Lê Văn T;
- Buộc bà Lê Diệu L, ông Lê Văn T (3 T1) phải liên đới trả ông Trần Minh C số tiền 94.680.000 đồng (chín mươi tư triệu, sáu trăm tám mươi nghìn đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
3. Về án phí sơ thẩm:
- Ông Trần Minh C được miễn án phí dân sự sơ thẩm.
- Bà Lê Diệu L, ông Lê Văn T phải liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm với số tiền 4.734.000 đồng (bốn triệu, bảy trăm ba mươi bốn nghìn đồng), bà L, ông T phải có nghĩa vụ nộp án phí tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
4. Về quyền kháng cáo:
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án dân sự, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh An Giang (1); - VKSND huyện Chợ Mới (2); - Chi cục THADS huyện Chợ Mới (1); - Các đương sự (để thi hành) (2); - Lưu hồ sơ (1); - Lưu văn phòng (1). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Trung Kiên |