- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lường Văn L - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Lường Văn L, phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH QUẢNG NINH Bản án số: 106/2022/HSST Ngày: 11/11/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI, TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: bà Đỗ Thị Thanh Huệ
Các Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Thế Căn
bà Đinh Thanh Hoàn
- Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Ngọc Lâm, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Hữu Dần, Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 104/2022/TLST-HS ngày 11 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 104/2022/QĐXXST- HS ngày 28 tháng 10 năm 2022 đối với bị cáo:
Lường Văn L (tên gọi khác: không); sinh ngày 21/3/1998, tại: Tân U, L;
Nơi đăng ký thường trú: bản Phiêng Phát 1, xã Trung Đ, huyện Tân U, tỉnh L; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Thái; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lương Văn L và bà Lò Thị Y; vợ con: chưa có; tiền án, tiền sự: chưa; bị giữ người trong trường hợp khẩn cấp ngày 22 tháng 8 năm 2022, hiện tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố M, tỉnh Quảng Ninh. Có mặt.
- Bị hại: anh Vũ Xuân K, sinh năm 1978; nơi thường trú: thôn Đại Thắng, xã N, huyện K, thành phố Hải Ph, chỗ ở: 130A, xóm Th, khu 8, phường H, thành phố M. Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Người có quyền lợi nghĩa vụ, liên quan:
1. Anh Từ Văn Th, sinh năm 1987, nơi cư trú: thôn S, xã C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).
2. Anh Hoàng Văn Th, sinh năm 1988, nơi cư trú: : thôn S, xã C, thành phố C, tỉnh Q. Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).
3. Anh Chu Khắc S, sinh năm: 1975; nơi cư trú: khu 6, phường K, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Người làm chứng:
1. Anh Hoàng Văn C, sinh năm: 1997. Vắng mặt.
2. Anh Phan Văn H, sinh năm: 1990. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 22/8/2022 vào khoảng 13 giờ, Lường Văn L đi bộ qua nhà trọ tại số 130A, xóm Thanh B, khu, phường H, thành phố M, thấy có 03 (ba) chiếc xe mô tô để bên ngoài sân của dãy phòng trọ, không có người trông coi nên đã nảy sinh ý định chiếm đoạt một chiếc xe mô tô để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Với ý định đó, L đã lén lút, dắt trộm 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision màu đen - đỏ, biển số 14U1-352.66 của anh Vũ Xuân K rồi dùng tay tháo rời biển số xe cất giấu vào người, sau đó dắt bộ đi. Khi đi qua quán cắt tóc Hoàng Cương ở khu 4, phường H, thành phố M của anh Hoàng Văn C, do sợ bị phát hiện nên Lả vào ngách bên cạnh quán cắt tóc vất lại chiếc áo phông màu đen, phía trước ngực áo có chữ LET'D GO!” đã mặc khi trộm cắp tài sản rồi cởi trần vào xin anh Cương áo để mặc. Anh C đã cho Lả một chiếc áo sơ mi màu xám, dài tay. Lả tiếp tục dắt xe tìm quán sửa xe để làm lại chìa khoá xe. Đến 14 giờ 10 phút cùng ngày, Lả dắt xe đến cửa hàng sửa chữa xe mô tô “Văn Hoan” địa chỉ khu 4, phường Hải Hòa, thành phố Móng Cái do anh Phan Văn H làm chủ. Tại đây, L đặt vấn đề thuê anh Hoan đánh giúp chìa khóa xe. Do nghi ngờ là xe trộm cắp nên anh H đã thông báo cho Công an phường H. Sau đó, tổ công tác của Công an thành phố Móng Cái phối hợp cùng Công an phường H và anh Vũ Xuân K đến, khi thấy lực lượng Công an và anh K đến thì L bỏ chạy và bị tổ công tác bắt giữ. Vật chứng tạm giữ gồm: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision màu đỏ - đen; tạm giữ trên người Lả 01 biển số 14U1-352.66. Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Móng Cái ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Lường Văn L. Quá trình điều tra đã tạm giữ tại hiện trường 01 chiếc áo phông màu đen nêu trên.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 600/KL- ĐGTS ngày 23/8/2022 của Hội đồng định giá tài sản Tố tụng hình sự thành phố Móng Cái kết luận: 01 chiếc xe mô tô biển kiểm soát 14U1-352.66 nhãn hiệu Honda Vision, màu đỏ - đen, số máy JF66E0795490, số khung 5819GY532243 đã qua sử dụng, chất lượng còn lại 60% trị giá 21.000.000 đồng (hai mươi mốt triệu đồng).
Quá trình điều tra bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Bị hại anh Vũ Xuân K trong quá trình điều tra có lời khai thể hiện như nội dung vụ án. Anh K đã nhận lại chiếc xe và không yêu cầu bị cáo bồi thường. Trong đơn xin xét xử vắng mặt anh K xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Từ Văn Th trong quá trình điều tra và trong đơn xin xét xử vắng mặt có lời khai thể hiện vào khoảng tháng 02 năm 2018 anh Thắng có nhờ anh đứng tên đăng ký chủ phương tiện xe mô tô biển kiểm soát 14U1- 352.66, nhãn hiệu Honda Vision, màu đỏ- đen. Sau khi đăng ký xong anh đã đưa lại giấy tờ xe cho anh Thắng và anh không có liên quan gì đến chiếc xe trên.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Hoàng Văn Th trong quá trình điều tra có lời khai thể hiện đầu năm 2018 anh có mua chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu đỏ- đen, kiểm soát 14U1- 352.66 và nhờ anh Từ Văn Th đứng tên, nhưng anh là người trực tiếp sử dụng. Đến tháng 10 năm 2019 do không còn nhu cầu sử dụng lên anh đã bán chiếc xe trên cho một nam thanh niên không quen biết, khi mua bán không viết giấy tờ. Vì đã bán chiếc xe trên nên đến nay anh không có liên quan.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Chu Khắc S trong quá trình điều tra có lời khai thể hiện khoảng tháng 6 năm 2020 anh có mua lại chiếc xe mô tô nhãn hiệu nhãn hiệu Honda Vision, màu đỏ- đen, biển kiểm soát 14U1- 352.66 của một người đàn ông không quen biết, việc mua bán có giấy tờ, nhưng do thời gian lâu nên anh Sơn không còn giữ giấy tờ mua bán. Đến tháng 8 năm 2020 anh bán chiếc xe trên cho anh Vũ Xuân K với giá 27.000.000đ (hai mươi bảy triệu đồng). Vì đã bán chiếc xe trên cho anh Kiên nên đến nay anh không có yêu cầu và liên quan gì.
Người làm chứng anh Hoàng Văn C và anh Phan Văn H trong quá trình điều tra có lời khai như nội dung vụ án.
Bản cáo trạng số: 106/CT - VKSMC ngày 10/10/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh đã truy tố bị cáo Lường Văn L, về tội:“Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà: bị cáo khai lại toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung vụ án và quá trình điều tra.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo như nội dung Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng: khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Lường Văn L từ 12 (mười hai) tháng đến 15 (mười lăm) tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt 22/8/2022.
Về hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung.
Về vật chứng, xử lý vật chứng:
Áp dụng: điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) chiếc áo phông màu đen, phía trước có chữ “LET’DGO” đã qua sử dụng, không còn giá trị sử dụng.
Bị cáo không tranh luận với lời luận tội của Đại diện Viện kiểm sát và nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Móng Cái, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Nhận định của Hội đồng xét xử về những chứng cứ xác định bị cáo có tội. Đánh giá nội dung Biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm ngày 22/8/2022, Đơn trình báo ngày 22/8/2022 của anh Vũ Xuân K; Biên bản giữ người trong trường hợp khẩn cấp ngày 22/8/2022; Kết luận định giá tài sản số 600/KL - HĐĐGTS ngày 23/8/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng Hình sự thành phố Móng Cái; các lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa; lời khai của bị hại; lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở kết luận: 22/8/2022, tại khu 8, phường H, thành phố M, Lường Văn L có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision màu đỏ - đen, biển số: 14U1-352.66 trị giá 21.000.000đ (hai mươi một triệu đồng) của anh Vũ Xuân K.
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi do lỗi cố ý, mặc dù biết pháp luật nghiêm cấm việc chiếm đoạt bất hợp pháp tài sản của người khác, nhưng vẫn lén lút thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Hành vi của bị cáo xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Do đó, hành vi chiếm đoạt tài sản có giá trị 21.000.000đ (hai mươi một triệu đồng) nên đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Như vậy, quan điểm truy tố và luận tội của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái là có căn cứ pháp lý.
Xét tính chất, mức độ của hành vi là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, hành vi chiếm đoạt được chiếc xe và di chuyển xe khỏi vị trí ban đầu như vậy tội phạm mà bị cáo thực hiện đã hoàn thành. Đây là hành vi nguy hiểm trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ và xâm phạm an ninh, trật tự xã hội. Mặc dù nhận thức rõ pháp luật nghiêm cấm, nhưng để có tiền tiêu xài nên bị cáo nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của người khác. Vì vậy, cần xử lý nghiêm, mới có tác dụng giáo dục bị cáo và phục vụ công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, phòng ngừa chung.
Về áp dụng tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, hình phạt bổ sung.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” và được người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Về hình phạt bổ sung: theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự, người phạm tội còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo không có công việc. Vì vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng và xử lý vật chứng:
- Chiếc xe mô tô Honda Vision màu đỏ - đen, biển số: 14U1-352.66 cơ quan điều tra đã trả lại cho bị hại và bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) chiếc áo phông màu đen, phía trước có chữ “LET’DGO” đã qua sử dụng, không còn giá trị sử dụng.
Về nghĩa vụ chịu án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: bị cáo; bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: bị cáo Lường Văn L, phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng: khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Lường Văn L 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 22/8/2022.
2. Về vật chứng và xử lý vật chứng:
Áp dụng: điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) chiếc áo phông màu đen, phía trước có chữ “LET’DGO” đã qua sử dụng.
(Vật chứng trên hiện do Chi cục thi hành án dân sự thành phố Móng Cái quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng số 04/2023/THA, ngày 11/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Móng Cái).
2. Về nghĩa vụ chịu án phí:
Áp dụng: khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Lường Văn Lả phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo:
Áp dụng: khoản 1, khoản 4 Điều 331 và khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Quảng Ninh;
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa
- VKSND tỉnh Quảng Ninh;
- VKSND thành phố Móng Cái;
- Công an Tp Móng Cái;
- Thi hành án;
- Bị cáo;
Đỗ Thị Thanh Huệ
- Bị hại;
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
- Lưu: HS, VP. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA.
Đỗ Thị Thanh Huệ
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Ninh; - VKSND thành phố Móng Cái; - Công an Tp Mãng c¸i; - Thi hành án; - Bị cáo; - Bị hại; - Lưu án văn; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Đỗ Thị Thanh Huệ |