vanban.org

Bản án 106/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình Tuyên án 29/09/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Hà Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Hà Văn H 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 05/8/2022. Án phí: Căn cứ điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Hà Văn H phải chịu 200.000Đ (Hai trăm ng… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hà Văn H - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Hà Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HÒA BÌNH
TỈNH HÒA BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 106/2022/HS– ST
Ngày: 29/9/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH – TỈNH HÒA BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Quỳnh Anh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Trọng Tuấn, ông Bùi T Nhiến.

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Vũ Thị Lan Hương – Thư ký viên chính Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hạnh – Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 9 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 102/2022/TLST – HS ngày 13 tháng 9 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 104/2022/QĐXXST – HS ngày 14/9/2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: Hà Văn H, sinh năm 1999. Nơi sinh: Hòa Bình.

Nơi cư trú: Xóm T, xã T, huyện Đ, tỉnh Hòa Bình;

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Tày; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hà Văn H và bà Hà Thị T; Có vợ là Nguyễn Thị N, sinh năm 2003. Gia đình bị cáo có hai anh em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình.

Tiền án: Ngày 17/11/2020 bị Tòa án nhân dân huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội xử phạt 07 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại bản án số: 73/2020/HSST. Bị cáo chấp hành xong hình phạt ngày 08/3/2021 (Chưa được xóa án tích).

Tiền sự: Không.

Nhân thân:

- Năm 2003 bị Công an huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình xử phạt hành chính cảnh cáo theo quyết định số 6752 về hành vi trộm cắp tài sản.

- Ngày 29/4/2016 tại Bản án số 09/2016/HSST của Tòa án nhân dân huyện Đà Bắc - tỉnh Hòa Bình xử phạt 06 tháng tù cho hưởng án treo về tội Trộm cắp tài sản.

- Ngày 12/3/2018 tại Bản án số 04/2018/HSPT bị Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình xử phúc thẩm xử phạt 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản.

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 05/8/2022, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an thành phố Hòa Bình, được trích xuất, có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Chị Nguyễn Thị Hoài T, sinh năm 1973; Địa chỉ: Tổ 9, phường Đồng Tiến, thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình (Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Trần Thị N, sinh năm 1983; Trú tại: Tổ 9, phường Dân Chủ, thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình (Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hà Văn H là công nhân làm thuê tại xưởng chế biến thức ăn gia cầm của chị Nguyễn Thị Hoài T, vào sáng ngày 25/4/2022 H có thấy chị Trần Thị N – là người đi thu mua sắt vụn đi ngang qua xưởng, H gọi chị N và xin số điện thoại để liên hệ bán sắt vụn. Đến 16 giờ cùng ngày, H không thấy ai trong xưởng nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản, H dùng kéo cắt 01 (một) tấm lưới sắt gần cổng ra vào thành nhiều mảnh và tháo 02 (hai) cánh cửa sắt tại lò sấy giun của nhà chị T xuống. Sau đó gọi điện cho chị N đến thu mua sắt. Chị N trả cho H số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng). Sau khi cầm tiền, H bắt xe khách đi về nhà ở huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình và chi tiêu hết số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng). Còn chị N khi chuẩn bị mang sắt thu mua về thì bị chị T phát hiện, trình báo cơ quan Công an.

Bản kết luận định giá tài sản số 188/KL-HĐĐG ngày 23/6/2022 của Hội đồng định giá tài sản kết luận: 01 tấm lưới thép đan ô lưới hình vuông tình trạng han rỉ đã qua sử dụng bị cắt thành nhiều đoạn có tổng trọng lượng 09 kg; 01 cánh cửa được hàn, đính bằng các T sắt hộp kích thước 238 x 84cm, trọng lượng 15 kg, tình trạng đã qua sử dụng, 01 cánh cửa có khung làm bằng các T sắt hộp có hàn, đính tấm tôn, có kích thước 213 x 102cm, trọng lượng 11kg, tình trạng han rỉ đã qua sử dụng. Tổng giá trị là: 947.000đ (Chín trăm bốn mươi bảy nghìn đồng).

Cáo trạng số 103/CT-VKS-TP ngày 08/9/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình truy tố Hà Văn H về tội "Trộm cắp tài sản" theo điểm b khoản 1 điều 173 Bộ luật Hình Sự. Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố Hà Văn H phạm tội "Trộm cắp tài sản”. Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự. Xử phạt: Hà Văn H từ 09 đến 12 tháng tù. Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Vật chứng vụ án: Toàn bộ số tài sản do bị cáo H trộm cắp Cơ quan điều tra trả lại cho chủ sở hữu.

Đối với chiếc kéo dạng kìm H khai dùng để cắt sắt và sau khi cắt sắt đã vứt chiếc kéo, Cơ quan điều tra đã ra thông báo truy tìm vật chứng. Đồng thời buộc bị cáo chịu án phí hình sự theo quy định.

Về phần trách nhiệm dân sự: Bị hại – chị Nguyễn Thị Hoài T đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường.

Phần tranh luận: Bị cáo không có tranh luận gì.

Lời nói sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.

[2]. Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi trộm cắp tài sản của chị T, lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù H với lời khai tại Cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người liên quan, cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Nên đủ cơ sở kết luận vào ngày 25/4/2022 Hà Văn H đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của chị Nguyễn Thị Hoài T, cụ thể là dùng kéo cắt 01 (một) tấm lưới sắt gần cổng ra vào thành nhiều mảnh và tháo 02 (hai) cánh cửa sắt tại lò sấy giun, rồi bán sắt vụn lấy tiền chi tiêu. Tổng giá trị tài sản bị cáo trộm cắp trị giá 947.000đ (Chín trăm bốn mươi bảy nghìn đồng).

Mặc dù giá trị tài sản Hà Văn H chiếm đoạt có giá trị dưới 2.000.000đ (Hai triệu đồng), nhưng ngày 17/11/2020 Hà Văn H bị Tòa án nhân dân huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội xử phạt 07 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại bản án số: 73/2020/HSST, bị cáo chấp hành xong hình phạt ngày 08/3/2021, ngày 25/4/2022 khi thực hiện hành vi trộm cắp bị cáo chưa được xóa án tích. Do đó, hành vi nêu trên của Hà Văn H đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản quy định tại điểm b khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự như cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình đã truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trái pháp luật hình sự, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an trên địa bàn. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội nhưng do lười lao động, đã cố ý lén lút thực hiện tội phạm. Bị cáo mặc dù đã có tiền án về tội Trộm cắp tài sản nhưng không lấy đó làm bài học, vẫn thực hiện hành vi phạm tội. Nên cần có mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, cần xem xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân để áp dụng hình phạt.

. Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về nhân thân, bị cáo là người có nhân thân xấu, cụ thể: Năm 2003 bị Công an huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình xử phạt hành chính cảnh cáo theo quyết định số 6752 về hành vi trộm cắp tài sản; Ngày 29/4/2016 bị Bản án số 09/2016/HSST của Tòa án nhân dân huyện Đà Bắc – tỉnh Hòa Bình xử phạt 06 tháng tù cho hưởng án treo về tội trộm cắp tài sản; Ngày 12/3/2018 bị Bản án số 04/2018/HSPT bị Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình xử phúc thẩm xử phạt 12 tháng tù về tội trộm cắp tài sản.

Về tình tiết tăng nặng: Không.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Hành vi phạm tội của bị cáo gây thiệt hại không lớn; Bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo; Ông nội của bị cáo là Hà Văn Mủn được tặng thưởng huân chương kháng chiến, nên được hưởng những tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, h khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

. Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

. Về vật chứng: Toàn bộ số tài sản do bị cáo H trộm cắp Cơ quan điều tra trả lại cho chủ sở hữu H pháp là đúng theo quy định.

Đối với chiếc kéo dạng kìm H khai dùng để cắt sắt và sau khi cắt sắt đã vứt chiếc kéo, Cơ quan điều tra ra thông báo truy tìm vật chứng và giải quyết theo quy định.

. Về trách nhiệm dân sự: Chị Nguyễn Thị Hoài T đã nhận lại tài sản và không yêu cầu, đề nghị gì khác, nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

Đối với chị Trần Thị N khi mua số tài sản trên không biết do H trộm cắp nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là có căn cứ. Về số tiền 300.000Đ (Ba trăm nghìn đồng) chị N T toán cho H nhưng không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ: Điểm b khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Hà Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Hà Văn H 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 05/8/2022.

2. Án phí: Căn cứ điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Hà Văn H phải chịu 200.000Đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Trường H vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án.

Cỡ chữ