vanban.org

Bản án 106/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Cà Mau, tỉnh Cà Mau Tuyên án 13/07/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Huỳnh Thị N1 phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Huỳnh Thị N1 04 tháng 06 ngày tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị tạm giam ngày 07/3/2022, bằng với thời hạn tạm giam. Tuyên bố trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo Huỳnh Thị N1 nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Huỳnh Thi N1 - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Huỳnh Thị N1 phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THH PHỐ CÀ MAU,
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 106/2022/HS-ST
Ngày: 13-7-2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU

- THh phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trương Thanh Quốc

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Hoàng Kha

Ông Phan Bảo Dương

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thúy Kiều, là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau tham gia phiên toà: Ông Ngô Kiên Định - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 76/2022/TLST-HS ngày 27 tháng 5 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 91/2022/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 6 năm 2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: Huỳnh Thị N1, tên gọi khác: Ngân Lùn, sinh năm 1974, tại Cà Mau; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: Số 408/9, đường Q, khóm 4, phường 5, thành phố C, tỉnh C; chỗ ở: Số 408/9, đường Q, khóm 4, phường 5, thành phố C, tỉnh C; nghề nghiệp: Nội trợ; trình độ học vấn: 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Văn Tr (đã chết) và bà Lê Thị B (đã chết); chồng, con: Không; tiền án: Không, tiền sự: 01 lần. Tại quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 144 ngày 14/8/2021 của Công an phường 5, tHh phố Cà Mau xử phạt 200.000 đồng về hành vi gây mất trật tự khu dân cư. Nộp phạt xong ngày 20/9/2021; Nhân thân xấu: Tại quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 60 ngày 22/01/2020 của Công an phường 5, thành phố Cà Mau xử phạt 200.000 đồng về hành vi gây mất trật tự khu dân cư, nộp phạt xong ngày 02/3/2020. Tại quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 109 ngày 28/02/2020 của Công an phường 5, thành phố Cà Mau xử phạt 300.000 đồng về hành vi gây mất trật tự trụ sở cơ quan tại phường 5, nộp phạt ngày 11/5/2020. Tại quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 167 ngày 02/11/2020 của Công an phường 5, thành phố Cà Mau xử phạt 300.000 đồng về hành vi gây mất trật tự ở trụ sở cơ quan tại khóm 2, phường 5, nộp phạt xong ngày 11/11/2020. Bị áp dụng biện pháp tạm giam từ ngày 07/3/2022 đến nay. (Có mặt).

Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Đặng Minh H - Luật sư của Văn phòng Luật sư Đặng Minh H, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh C. (Có mặt).

Người bị hại: Chị Nguyễn Kim N2, sinh năm 1996. Tạm trú: Đường Đ, khóm 7, phường 5, tHh phố C, tỉnh C. (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 11 giờ 30 phút ngày 27/12/2021, chị Nguyễn Kim N2 thuê xe ô tô tải đến đậu trước hẻm để chở đồ đến nơi ở mới, lúc này anh Huỳnh Văn H, là người dân sống trong hẻm và là anh ruột của bị cáo chở bị cáo đi trên xe mô tô chạy ra ngoài hẻm. Khi đi ngang qua, thấy xe ô tô tải đậu nên bị cáo kêu anh H dừng xe lại rồi đến yêu cầu tài xế xe tải dời xe đi nơi khác nếu không dời sẽ điện báo giao thông. Thấy vậy, tài xế xe tải dời xe đi, sau đó vào kể cho bị hại nghe sự việc. Bị hại đi ra nói chuyện với bị cáo, hai bên cự cãi, dẫn đến đánh nhau, bị hại xông vào dùng tay đánh trúng vào người bị cáo, sau đó bị cáo dùng nón bảo hiểm, loại nón sơn, đang cầm trên tay đánh vào giữa mặt bị hại gây thương tích ở vùng mũi. Bị cáo lên xe cho anh H chở đi, bị hại được đưa vào Bệnh viện Đa khoa Hoàng Mỹ Minh Hải điều trị và có đơn yêu cầu xử lý hình sự đối với bị cáo.

Tang vật của vụ án tạm giữ: Một cái nón bảo hiểm màu tím, bằng nhựa, dạng lưởi chai, bên trong có ký hiệu Cty TNHH thời trang nón sơn – “NS.008” ngày sản xuất theo QC VN 02 – 2008 chất liệu F – POR kích thước 250mm-04A đã được nhập kho chờ xử lý.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 05/TgT-22 ngày 24/01/2022 của Trung tâm pháp y tỉnh Cà Mau kết luận: Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên của bị hại là 09% (chín phần trăm).

Tại kết luận giám định số 851/KL-C09B ngày 24/02/2022 của phân viện khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh kết luận:

Mẫu vật gửi giám định: nón bảo hiểm màu tím, bằng nhựa, dạng lưởi chai, bên trong có ký hiệu Cty TNHH thời trang nón sơn – “NS.008” ngày sản xuất theo QC VN 02 – 2008 chất liệu F – POR kích thước 250mm-04A nếu tác động lên cơ thể người gây thương tích là hung khí nguy hiểm.

Cáo trạng số: 80/CT-VKS ngày 26/5/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau truy tố bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Đối với bị cáo: Bị cáo thừa nhận toàn bộ Hh vi phạm tội của mình như Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau đã truy tố.

Đối với bị hại: Trong quá trình điều tra, bị hại yêu cầu bị cáo bồi thưởng tổng số tiền 194.152.000 đồng. Tại phiên tòa bị hại thay đổi yêu cầu, yêu cầu bị cáo bồi thường tổng số tiền 62.233.000 đồng, cụ thể: Chi phí phẫu thuật: 13.487.000 đồng, Tiền tái khám: 1.438.000 đồng; Tiền thuốc: 344.000 đồng. Tiền thuê xe chở nhập viện, xuất viện, tái khám: 200.000 đồng. Tiền ăn uống, bồi dưỡng: 1.950.000 đồng. Tiền thu nhập thực tế bị mất 786.000đ. Thời gian nghỉ dưỡng 2.620.000 đồng. Tiền tổn thất tinh thần: 40.000.000 đồng. Tiền test covid: 358.000 đồng. Tiền ăn uống, đi lại của người nuôi bệnh: 450.000 đồng. Tiền mất thu nhập thực tế của người nuôi bệnh: 600.000 đồng. Yêu cầu xử lý trách nhiệm hình sự đối với bị cáo theo quy định pháp luật.

Giữa bị cáo, bị hại không thỏa thuận được với nhau về trách nhiệm dân sự nên bị cáo yêu cầu Hội đồng xét xử giải quyết về trách nhiệm dân sự.

Ngày 02/6/2022, bị cáo đã nộp tiền khắc phục hậu quả tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cà Mau với số tiền là 7.000.000 đồng. Tại phiên tòa, có yêu cầu đối trừ số tiền bị cáo đã khắc phục và nộp khắc phục.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tHh phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo theo Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, tuyên bố bị cáo Huỳnh Thị N1 phạm tội “Cố ý gây thương tích”, xử phạt bị cáo từ 09 tháng đến 12 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo bồi thường cho bị hại tổng số tiền 29.683.000 đồng.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 cái nón bảo hiểm màu tím, bằng nhựa, dạng lưởi chai, bên trong có ký hiệu Cty TNHH thời trang nón sơn – “NS.008” ngày sản xuất theo QC VN 02 – 2008 chất liệu F – POR kích thước 250mm-04A.

Tại phiên tòa, người bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét nhân thân, hoàn cảnh gia đình, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử phạt bị cáo bằng với thời hạn tạm giam, thả tự do cho bị cáo tại phiên tòa.

Lời nói sau cùng, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, xin lỗi bị hại, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về Hh vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cà Mau, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến Hh tố tụng, người tiến Hh tố tụng. Do đó, hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại và các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án. Từ đó có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 11 giờ 30 phút, ngày 27/12/2021, tại khóm 4, phường 5, thành phố Cà Mau, do có mâu thuẫn nên bị hại dùng tay đánh bị cáo, sau đó bị cáo dùng nón bảo hiểm, là hung khí nguy hiểm đánh vào mũi bị hại gây thương tích 09%.

Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và biết rõ việc dùng nón bảo hiểm, là hung khí nguy hiểm, khi đánh vào vùng mũi của bị hại có thể gây tổn thương sức khỏe cho bị hại nhưng bị cáo vẫn thực hiện hành vi với lỗi cố ý và thực tế đã gây thương tích cho bị hại với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 09%. Do đó, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự với tình tiết định khung “dùng hung khí nguy hiểm” đúng như Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau đã truy tố.

Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội: hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của người khác một cách trái pháp luật nên cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để bị cáo được giáo dục, cải sửa lỗi lầm trở tHh người có ích cho gia đình và xã hội.

Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo:

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, có 01 tiền sự về hành vi gây mất trật tự khu dân cư.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trong; bị cáo đã tự nguyện bồi thường một phần thiệt hại cho bị hại; bị cáo phạm tội cũng có một phần lỗi của bị hại. Do đó, Hội đồng xét xử xét cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Với những phân tích tại mục [4], để thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật đối với bị cáo, Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng đối với bị cáo theo quy định tại Điều 54 Bộ luật Hình sự.

Về trách nhiệm dân sự: Xét các yêu cầu của bị hại, yêu cầu bị cáo bồi thường chi phí phẫu thuật: 13.487.000 đồng, Tiền tái khám: 1.438.000 đồng; Tiền thuốc: 344.000 đồng. Tiền thuê xe chở nhập viện, xuất viện, tái khám: 200.000 đồng. Tiền ăn uống, bồi dưỡng: 1.950.000 đồng. Tiền thu nhập thực tế bị mất 786.000đ. Thời gian nghỉ dưỡng 2.620.000 đồng. Tiền test covid: 358.000 đồng. Tiền ăn uống, đi lại của người nuôi bệnh: 450.000 đồng. Tiền mất thu nhập thực tế của người nuôi bệnh: 600.000 đồng là phù hợp với quy định tại Điều 591 Bộ luật dân sự 2015 nên có cơ sở chấp nhận.

Đối với tiền bồi thường tổn thất tinh thần: Căn cứ vào tỉ lệ thương tích của bị cáo gây ra cho bị hại, việc bị hại yêu cầu bồi thường 40.000.000đ là cao, cần điều chỉnh, buộc bị cáo bồi thường cho bị hại 05 tháng lương cơ sở bằng 7.450.000 đồng là phù hợp.

Tổng số tiền buộc bị cáo bồi thường cho bị hại là 29.683.000 đồng.

Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 cái nón bảo hiểm màu tím, bằng nhựa, dạng lưởi chai, bên trong có ký hiệu Cty TNHH thời trang nón sơn – “NS.008” ngày sản xuất theo QC VN 02 – 2008 chất liệu F – POR kích thước 250mm-04A.

Đối với Hh vi bị hại đánh bị cáo, đã được xử lý Hh chính, việc xử lý Hh chính là phù hợp nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Điểm a khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 54 của Bộ luật Hình sự; Điều 328 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Huỳnh Thị N1 phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Huỳnh Thị N1 04 tháng 06 ngày tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị tạm giam ngày 07/3/2022, bằng với thời hạn tạm giam. Tuyên bố trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo Huỳnh Thị N1 nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.

Căn cứ các Điều 584, 589, 590 Bộ luật dân sự:

- Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Huỳnh Thị N1 có trách nhiệm bồi thường cho bị hại Nguyễn Kim N2 số tiền 29.683.000 đồng. Không chấp nhận yêu cầu của bị hại về việc buộc bị cáo bồi thường số tiền 32.550.000 đồng.

Chị Nguyễn Kim N2 liên hệ với Chi cục thi Hh án dân sự tHh phố Cà Mau để nhận số tiền 7.000.000 đồng do bị cáo nộp khắc phục hậu quả theo biên lai thu số 0000526 ngày 02 tháng 6 năm 2022.

Kể từ ngày bị hại có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị cáo không thi hành xong các khoản tiền, hàng tháng bị cáo còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.

Căn cứ vào Điều 106, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án:

- Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 cái nón bảo hiểm màu tím, bằng nhựa, dạng lưởi chai, bên trong có ký hiệu Cty TNHH thời trang nón sơn – “NS.008” ngày sản xuất theo QC VN 02 – 2008 chất liệu F – POR kích thước 250mm-04A theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 31/5/2022.

- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng và án phí dân sự sơ thẩm 1.484.000 đồng (chưa nộp).

- Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi Hh án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ