vanban.org

Bản án 106/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định Tuyên án 26/12/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Phạm Thị D phạm tội “Chứa mại dâm”;

Xử phạt bị cáo Phạm Thị D 15 (mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 30 (ba mươi) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. (Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 20-10-2022 đến ngày 29-10-2022). Giao bị cáo Phạm Thị D cho Uỷ ban nhân dân xã G, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định giám sát, gi… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "chứa mại dâm - phạm tội chứa mại dâm (điều 254 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Thị D phạm tội “Chứa mại dâm”;
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HẢI HẬU
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 106/2022/HS-ST
Ngày 26-12-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Phạm Thúy Nga

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hải Sơn;

Bà Nguyễn Thị Thúy Mùi.

- Thư ký phiên toà: Bà Đoàn Thị Xuyến - Thư ký Toà án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thọ - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 97/2022/TLST- HS ngày 24 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 105/2022/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 12 năm 2022, đối với bị cáo:

Phạm Thị D, sinh năm 1967; nơi cư trú: Xóm 10, xã G, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định. Nơi ở hiện nay: Ki ốt “Hoa Lan” khu du lịch Thịnh Long, thị trấn Thịnh Long, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Kinh doanh nhà nghỉ; Trình độ văn hóa: 7/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Thắng L, sinh năm 1935 và bà Vũ Thị N, sinh năm 1937 (đều đã chết); gia đình có 05 anh em ruột, bị cáo là thứ ba; có chồng là Mai Văn X, sinh năm 1964; có 02 con, con lớn sinh năm 1990, con nhỏ sinh năm 1992; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 20-10-2022 đến ngày 29-10-2022 được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. (có mặt).

Người làm chứng:

1. Anh Nguyễn Văn Đình, sinh năm 1994 (vắng mặt);

2. Chị Lò Thị Nhung, sinh năm 1992 (vắng mặt);

3. Anh Nguyễn Văn Sao, sinh năm 1989 (vắng mặt);

4. Anh Trần Bá Quang, sinh năm 1989 (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ 40 phút ngày 19-10-2022, Nguyễn Văn Đình và Nguyễn Văn Sao đều trú tại xã Nghĩa Sơn, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định đến kiốt “Hoa Lan” ở khu du lịch Thịnh Long, thị trấn Thịnh Long, huyện Hải Hậu do Phạm Thị D làm chủ để uống nước. Quá trình uống nước, Đình đặt vấn đề với D “có em nào xinh không, bố trí cho em đứa”, D hiểu ý của Đình muốn mua dâm nên đồng ý và bảo Đình ngồi chờ. D đi vào phòng số 3 của ki ốt gặp Lò Thị Nhung là nhân viên nhà nghỉ và nói Nhung đi bán dâm cho khách, Nhung đồng ý. Trước đó giữa D và Nhung có thỏa thuận mỗi lần bán dâm Nhung sẽ được nhận 150.000 đồng, còn D được 100.000 đồng. Nhung mang theo bao cao su để trong túi quần đi ra ngoài cùng D. D thỏa thuận với Đình giá một lần mua bán dâm là 250.000 đồng, Đình đưa cho D số tiền 250.000 đồng. Sau đó, D bảo Đình và Nhung vào phòng số 1 của kiốt Hoa Lan để mua bán dâm. Khi vào phòng, Đình và Nhung tự cởi quần áo rồi nằm ôm nhau, Nhung lấy bao cao su do Nhung chuẩn bị đeo vào dương vật của Đình để quan hệ tình dục với nhau. Đến 19 giờ 50 phút cùng ngày, khi Đình và Nhung đang thực hiện hành vi mua bán dâm thì bị tổ công tác Đồn biên phòng Cửa khẩu Cảng Hải Thịnh Bộ đội Biên phòng tỉnh Nam Định phát hiện bắt quả tang. Tổ công tác thu giữ trên nền nhà 01 vỏ bao cao su màu trắng vàng có dòng chữ VIP condom và 01 bao cao su đã qua sử dụng; thu giữ của Phạm Thị D số tiền 250.000 đồng; Nguyễn Văn Đình 01 xe mô tô biển kiểm soát 90B2-502.40. Quá trình điều tra, Phạm Thị D đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân.

Cáo trạng số 97/CT-VKS-HH ngày 23-11-2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu đã truy tố Phạm Thị D về tội “Chứa mại dâm” theo khoản 1 Điều 327 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

- Bị cáo thành khẩn khai nhận đã thực hiện hành vi đúng như nội dung vụ án nêu trên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu thực hành quyền công tố tại phiên toà giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Phạm Thị D về tội “Chứa mại dâm” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 327; điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 15 đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 30 tháng đến 36 tháng. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo và đề nghị xử lý vật chứng đã thu giữ trong quá trình điều tra theo quy định của pháp luật.

Trong phần tranh luận: Kiểm sát viên và bị cáo không có ý kiến tranh luận.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo rất ăn năn, hối cải về hành vi vi phạm của mình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được cải tạo tại địa phương.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Hải Hậu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng đã được thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, những người làm chứng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa nhưng vắng mặt. Tuy nhiên hồ sơ vụ án thể hiện đầy đủ lời khai của họ trong quá trình điều tra. Việc vắng mặt của những người này không ảnh hưởng đến việc xét xử. Do đó căn cứ Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Xét lời khai nhận của bị cáo Phạm Thị D tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; phù hợp biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác lưu trong hồ sơ vụ án, do đó đủ cơ sở kết luận: Vào hồi 17 giờ 50 phút ngày 19-10-2022, Phạm Thị D đã đồng ý cho Nguyễn Văn Đình và Lò Thị Nhung mua bán dâm tại ki ốt “Hoa Lan” ở khu du lịch Thịnh Long, thị trấn Thịnh Long, huyện Hải Hậu do D làm chủ để thu lời bất chính số tiền 250.000đồng thì bị tổ công tác của Đồn Biên phòng Cửa khẩu Cảng Hải Thịnh, Bộ đội Biên phòng tỉnh Nam Định phát hiện bắt quả tang. Bị cáo là người có thể chất, tinh thần bình thường, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Do đó, hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Chứa mại dâm”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 327 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ.

Xét tính chất và hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo không những trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, làm ảnh hưởng đến thuần phong, mỹ tục và đạo đức xã hội mà còn là nguyên nhân làm lây truyền các căn bệnh xã hội. Trong tình hình hiện nay, tệ nạn mại dâm có chiều hướng gia tăng. Do đó, để đấu tranh và dẹp bỏ tệ nạn mại dâm cần phải xử lý nghiêm đối với bị cáo nhằm trừng trị, giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng ngừa chung.

Về nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: trong vụ án này bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Bị cáo Phạm Thị D là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai báo, thái độ ăn năn hối cải; bị cáo có bố đẻ là người có công với cách mạng được Nhà nước tặng Huân chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng ba nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, đặc điểm nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo như phân tích ở trên. Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo có nhân thân tốt, từ trước tới nay luôn chấp hành tốt chính sách pháp luật và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của người công dân, có nơi cư trú rõ ràng cũng như bản thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Do đó, cần cho bị cáo được hưởng lượng khoan hồng của pháp luật không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho bị cáo được cải tạo dưới sự giám sát của chính quyền địa phương, phù hợp với quy định tại Điều 65 của Bộ luật hình sự, cũng đảm bảo mục đích của hình phạt như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên toà là phù hợp.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo vi phạm lần đầu, thu nhập không ổn định, vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên toà là phù hợp.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với số tiền 250.000 đồng đã thu giữ của Phạm Thị D là tiền thu lời bất chính từ hành vi chứa mại dâm nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước;

- 01 vỏ bao cao su màu trắng vàng có dòng chữ VIP condom và 1 bao cao su đã qua sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát 90B2-502.40 là tài sản hợp pháp của anh Trần Bá Quang ở thôn Đồng Quê, xã Vũ Bản, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam. Anh Quang không biết Đình mượn xe để đi mua dâm nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hải Hậu đã trả lại cho anh Quang quản lý và sử dụng là phù hợp pháp luật.

Đối với Nguyễn Văn Đình có hành vi mua dâm, Lò Thị Nhung có hành vi bán dâm là vi phạm hành chính nên Công an huyện Hải Hậu xử lý vi phạm hành chính là phù hợp pháp luật.

Đối với anh Nguyễn Văn Sao đi cùng Đình đến Ki ốt “Hoa Lan” của Phạm Thị D nhưng không được bàn bạc, không góp tiền để Đình thực hiện hành vi mua dâm nên không có căn cứ để xử lý anh Sao bằng pháp luật.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 327; điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự:

Tuyên bố bị cáo Phạm Thị D phạm tội “Chứa mại dâm”;

Xử phạt bị cáo Phạm Thị D 15 (mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 30 (ba mươi) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. (Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 20-10-2022 đến ngày 29-10-2022).

Giao bị cáo Phạm Thị D cho Uỷ ban nhân dân xã G, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

2. Căn cứ điểm d khoản 1, khoản 2 Điều 125 của Bộ luật tố tụng hình sự:

Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” đối với bị cáo Phạm Thị D theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 63/LC-CĐKNCT, ngày 29 tháng 10 năm 2022 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ Luật tố tụng Hình sự.

- Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 250.000đồng (hai trăm năm mươi nghìn đồng) của bị cáo Phạm Thị D do thu lợi bất chính từ hành vi phạm tội mà có.

- Tịch thu tiêu hủy 01 vỏ bao cao su màu trắng vàng và 01 bao cao su đã qua sử dụng.

(Các vật chứng nêu trên được mô tả như Biên bản bàn giao vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hải Hậu và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hải Hậu ngày 16-12-2022 và Biên lai thu tiền số 0003982 ngày 09-12-2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hải Hậu).

4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/NQ-UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án, buộc bị cáo Phạm Thị D phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hạn thi hành án thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ