vanban.org

Bản án 106/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Đông Anh, TP. Hà Nội Tuyên án 08/07/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thiệu A phạm tội: Cố ý gây thương tích.

Về hình phạt chính: Xử phạt: Nguyễn Thiệu A 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/01/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "nguyễn thiệu quý - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều củ…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thiệu A phạm tội: Cố ý gây thương tích.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐÔNG ANH
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 106/2022/HS-ST
Ngày: 08/7/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Lâm Bình

- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị An

Ông Nguyễn Hữu Đệ

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Đăng Hùng- Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Đông Anh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Hiệp- Kiểm sát viên

Ngày 08 tháng 7 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Anh-Thành phố Hà Nội xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 89/2022/TLST-HS ngày 10 tháng 6 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 97/2022/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 6 năm 2022 đối với bị cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Thiệu A; Tên gọi khác: Không, sinh năm 1973; Trú tại: Xóm W, thôn X, xã Y, huyện Z, Thành phố Hà Nội; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 7/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Nguyễn Thiệu C và bà Nguyễn Thị D; Không có vợ; Có 01 con sinh năm 2005; Theo danh chỉ bản số 070 của Công an huyện Đông Anh lập ngày 07/01/2022 xác định: Tiền án, tiền sự và nhân thân:

- Ngày 12/11/1991, Tòa án nhân dân tối cao xử phạt 01 năm tù, cho hưởng án treo về tội Cưỡng đoạt tài sản.

- Ngày 21/11/2011, Tòa án nhân dân tối cao xử phạt 11 năm 06 tháng tù về các tội: Giết người, Cố ý gây thương tích và Hủy hoại tài sản. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 28/8/2020.

- Ngày 12/7/2006, Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội ra Quyết định đình chỉ điều tra bị can, Quyết định đình chỉ vụ án hình sự về tội: Cố ý gây thương tích.

- Ngày 27/01/2022, Công an huyện Đông Anh, Thành phố Hà Nội ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền, mức phạt 3.000.000 đồng về hành vi Xâm hại sức khỏe người khác.

- Ngày 23/5/2022, Công an huyện Đông Anh, Thành phố Hà Nội ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền, mức phạt 6.500.000 đồng về hành vi Vi phạm an ninh, trật tự, an toàn xã hội, phòng chống tệ nạn xã hội.

Tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/01/2022. Có mặt.

* Bị hại: Chị Đặng Thị Hằng B, sinh năm 1989. Trú tại: Số nhà 119 W, tổ X, phường Y, thành phố Z, tỉnh Yên Bái. Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.

* Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Chị Dương Thị Thu Hương, sinh năm 1988. Hộ khẩu thường trú: Tổ 9, cụm 1, phường Phú Thượng, quận Tây Hồ, Thành phố Hà Nội. Nơi ở hiện nay: Tổ 2, phường Yên Ninh, thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái. Vắng mặt.

2. Ông Nguyễn Thiệu Tiến, sinh năm 1966. Trú tại: Xóm Tiên, thôn Tiên Hùng, xã Nguyên Khê, huyện Đông Anh, Thành phố Hà Nội. Có mặt.

* Những người làm chứng:

1. Anh Trần Văn Dương, sinh năm 1979. Địa chỉ: Thôn Nguyên Khê, xã Nguyên Khê, huyện Đông Anh, Thành phố Hà Nội. Có mặt.

2. Anh Nguyễn Khắc Tho, sinh năm 1992. Địa chỉ: Thôn Tiên Hùng, xã Nguyên Khê, huyện Đông Anh, Thành phố Hà Nội. Có mặt.

3. Ông Nguyễn Trọng Quyết, sinh năm 1972. Địa chỉ: Thôn Tiên Hùng, xã Nguyên Khê, huyện Đông Anh, Thành phố Hà Nội. Có mặt.

4. Bà Nguyễn Thị Hận, sinh năm 1976. Hộ khẩu thường trú: Thôn Thanh Giã, xã Tam Dị, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang. Nơi ở hiện nay: Xóm Tiên, thôn Tiên Hùng, xã Nguyên Khê, huyện Đông Anh, Thành phố Hà Nội. Vắng mặt.

5. Bà Nguyễn Thị Mai Chúc, sinh năm 1970. Địa chỉ: Xóm Tiên, thôn Tiên Hùng, xã Nguyên Khê, huyện Đông Anh, Thành phố Hà Nội. Vắng mặt.

6. Chị Hà Phương Nhung, sinh năm 1989. Địa chỉ: Xóm Tiên, thôn Tiên Hùng, xã Nguyên Khê, huyện Đông Anh, Thành phố Hà Nội. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án như sau:

Hồi 22h30’ ngày 03/01/2022, chị Dương Thị Thu Hương đến Công an huyện Đông Anh trình báo về việc khoảng 21h00’ cùng ngày, chị Hương cùng bạn là chị Đặng Thị Hằng B bị Nguyễn Thiệu A đánh gây thương tích và dọa giết tại nhà của A ở thôn X, xã Y, huyện Z, Thành phố Hà Nội.

Quá trình điều tra xác định: Khoảng 10h00’ ngày 03/01/2022, do có quen biết từ trước, ông Nguyễn Trọng Quyết gọi điện thoại rủ chị Dương Thị Thu Hương xuống nhà mình chơi, chị Hương rủ thêm bạn là chị Đặng Thị Hằng B đi cùng. Khoảng 15h30’ cùng ngày, chị Hương và chị B đến nhà ông Quyết gặp và làm quen với Nguyễn Thiệu A. Ngồi nói chuyện đến khoảng 17h30’, ông Quyết rủ chị Hương và chị B đến nhà hàng thịt trâu của anh Phạm Hồng Sơn trên đường Lê Hữu Tựu thuộc xã Nguyên Khê, huyện Đông Anh, TP. Hà Nội ăn tối cùng với anh Sơn, anh Phan Văn Tuấn, anh Trần Văn Dương và bà Lò Thị Vân (Vợ ông Quyết). Sau khi ăn xong, khoảng 21h00’ cùng ngày, bà Vân đi về nhà còn mọi người về nhà A tiếp tục uống rượu. Đến khoảng 21h30 cùng ngày, ông Quyết, anh Sơn, anh Dương và anh Tuấn về. Chị B và chị Hương định đi thuê nhà nghỉ ngủ qua đêm nhưng A bảo ngủ lại nhà mình. Chị B và chị Hương đồng ý và ngủ lại tại phòng ngủ tầng 2 nhà A.

Khi chị Hương và chị B nằm trên giường, A vào nằm giữa ôm, kéo váy chị Hương và dùng tay sờ ngực chị Hương thì bị chị Hương đẩy ra. A lấy điện thoại gọi cho anh Trần Văn Dương và anh Nguyễn Khắc Tho bảo gọi ông Quyết đến, dọa sẽ giết chị Hương và chị B. Chị B nghe thấy, xin lỗi A. A liền dùng chân, tay đấm, đá liên tiếp vào vùng đầu, mặt chị B. Chị Hương can ngăn, cũng bị A dùng tay tát một cái vào má. Nghe thấy tiếng ồn ào trên tầng 2, bà Nguyễn Thị Hận (Người giúp việc nhà A) báo cho bà Nguyễn Thị Mai Chúc (Chị dâu A, ở nhà bên cạnh) biết sự việc. Sau đó, bà Hận tự ra ngoài mở cổng và đứng ở bếp phía ngoài sân. Chị Hương cùng chị B bỏ chạy xuống tầng 1 thì bị A giữ lại ở phòng khách. A tiếp tục dùng chân, tay đánh chị B thì bà Chúc ra can ngăn. Nhân lúc bà Chúc ra can ngăn, chị Hương và chị B bỏ chạy được ra ngoài. A liền cầm theo 01 cái chày gỗ đuổi theo ra ngoài cổng tìm chị Hương, chị B nhưng không thấy nên quay vào trong nhà. Chị Hương đến Công an huyện Đông Anh trình báo. Chị B trốn vào nhà chị Hà Phương Nhung (Gần nhà A) nhờ gọi điện báo cho lực lượng công an.

Xác minh thương tích của chị Dương Thị Thu Hương tại Bệnh viện Đa khoa Đông Anh: Không có bầm tím, sưng nề vùng mặt, 01 vết lằn da vùng cổ trước kích thước khoảng 3cm, không có vết lằn vùng ngực trái.

Xác minh thương tích của chị Đặng Thị Hồng B tại Bệnh viện Đa khoa Đông Anh: Sưng nề, bầm tím quanh mắt trái, sưng nề góc hàm bên trái, sưng nề kèm giật da môi trên, sưng đau sống mũi, sưng nề vùng đỉnh trái 2x3cm, sưng nề vùng thái dương phải 2x3cm, sưng nề vùng chẩm 2x3cm, CT không có tổn thương nội sọ, bị gãy xương chính mũi.

Sau đó, Cơ quan điều tra đã tiến hành trưng cầu giám định tỷ lệ thương tích đối với chị Hương và chị B tại Trung tâm pháp y Hà Nội, kết quả như sau:

- Đối với chị Dương Thị Thu Hương:

+ Các chạm thương phần mềm vùng đầu mặt không sưng nề bầm tím, không ảnh hưởng chức năng, không để lại sẹo: Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 không có chương mục nào quy định cho điểm tỷ lệ tổn hại sức khỏe đối với các chạm thương này.

+ Vùng giữa cổ trước lệch trái có vết xung huyết đỏ, kích thước 4cm x (0,1-0,2)cm, không để lại sẹo không cho điểm tỷ lệ tổn hại sức khỏe

+ Cơ chế hình thành thương tích: Do vật tày, tày có cạnh gây nên.

- Đối với chị Đặng Thị Hằng B:

+ Gãy xương chính mũi, xương cánh mũi, lệch vẹo vách ngăn sang trái: 09%.

+ Chấn thương mắt trái xuất huyết kết mạc, kích ứng mắt, chảy nước mắt: 03%.

+ Gãy ngang nền mỏm nha C2 kèm mảnh vụn xương: Không thấy ghi nhận tổn thương thực thể trong Giấy chứng nhận thương tích số 03/CNTT-BVĐA ngày 14/01/2022 và Biên bản làm việc hồi 00h ngày 04/01/2022 của Công an huyện Đông Anh với Bác sỹ Bệnh viện Đa khoa Đông Anh, Bệnh viện Đa khoa Đông Anh không chỉ định cho chụp cắt lớp vi tính hàm mặt ngay sau khi xảy ra vụ việc vì vậy không có căn cứ để cho điểm tỷ lệ tổn hại sức khỏe đối với tổn thương này, đề nghị giám định bổ sung sau (Nếu có căn cứ).

+ Các chạm thương phần mềm khác: Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 không có chương mục nào quy định cho điểm tỷ lệ tổn hại sức khỏe đối với các chạm thương này.

+ Hiện chưa đánh giá được hết mức độ di chứng và biến chứng của các tổn thương, đề nghị giám định bổ sung sau (Nếu có căn cứ).

+ Cơ chế hình thành thương tích: Các tổn thương do vật tày gây nên.

Tỷ lệ tổn hại sức khỏe của chị B là 12%. Tính theo phương pháp cộng lùi. Sau khi nhận thông báo kết luận giám định thương tích, chị B từ chối giám định bổ sung.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Thiệu A khai: Khoảng 18h00’ ngày 03/01/2022, A đến nhà ông Quyết ở thôn Tiên Hùng, xã Nguyên Khê, huyện Đông Anh, Hà Nội chơi thì gặp và làm quen với chị Dương Thị Thu Hương, chị Đặng Thị Hồng B, sau đó cùng nhau ăn tối tại quán thịt trâu ở đường Lê Hữu Tựu. Ăn tối xong, A rủ chị Hương, chị B về nhà và tiếp tục uống rượu với nhau. Sau khi uống rượu xong, A lên phòng ngủ tầng 2 ngủ. Chị Hương và chị B có cùng lên phòng ngủ của A. Do uống say nên A không biết A có gây thương tích cho chị B và chị Hương không. Đây là lần đầu tiên A gặp chị Hương, chị B và trong suốt quá trình gặp gỡ, hai bên không xảy ra mâu thuẫn, to tiếng gì. Từ khi A gặp chị Hương, chị B cho đến khi chị Hương, chị B về nhà A thì A không thấy 02 người này bị thương tích gì.

Ngày 26/01/2022, chị Hương đề nghị rút đơn tố cáo đối với Nguyễn Thiệu A. Tiếp đó, ngày 08/02/2022, chị B đề nghị rút đơn tố cáo đối với Nguyễn Thiệu A.

Vật chứng tạm giữ:

- Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã ghi âm, ghi hình trong quá trình lấy lời khai của chị Dương Thị Thu Hương và Đặng Thị Hằng B; Viện kiểm sát đã ghi âm ghi hình trong quá trình hỏi cung Nguyễn Thiệu A. Tất cả video ghi âm ghi hình được lưu vào 01 USB chuyển cùng hồ sơ vụ án.

- Khám nghiệm hiện trường, Cơ quan điều tra tạm giữ: 01 chiếc giày cao gót màu đen đề nhãn hiệu Versace. Đây là chiếc giày do chị Hương bỏ chạy, để lại tại nhà A.

- Trong quá trình khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Thiệu A:

+ 01 đầu thu camera nhãn hiệu HIKVISION màu trắng.

+ 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max gắn 01 sim và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1202 vỏ màu xanh, bên trong lắp 01 sim.

Cơ quan điều tra trưng cầu Viện khoa học hình sự - Bộ Công an giám định đối với đầu thu camera tạm giữ tại nhà Nguyễn Thiệu A, kết quả:

- Không tìm thấy dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung video ghi lại hình ảnh tại mắt camera số 01 và số 04 của đầu ghi hình trong khoảng thời gian từ 21h00 ngày 03/01/2022 đến 23h00 ngày 03/01/2022.

- Có 01 đối tượng trên tay phải cầm một vật (Giống cái chày) trong tệp video: “CH04_2022-01-03_200632_2022-01-04_001631_ID1866.AVT” của mắt camera số 04 (Chi tiết thể hiện trong bản ảnh kèm theo).

- Hình ảnh các đối tượng đã được lập thành bản ảnh.

- Kèm theo kết luận giám định: 01 phụ lục bản ảnh giám định gồm 17 trang giấy khổ A4.

Đối với hình ảnh 01 đối tượng trên tay phải cầm một vật (Giống cái chày) trong Kết luận giám định đầu thu camera tạm giữ nhà A, A xác định đối tượng này chính là A.

Đối với 01 chiếc giày cao gót màu đen đề nhãn hiệu Versace, là tài sản của chị Dương Thị Thu Hương. Ngày 23/5/2022, Cơ quan điều tra đã Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trao trả cho chị Hương.

Đối với 01 đầu thu camera nhãn hiệu HIKVISION màu trắng. Ngày 23/5/2022, Cơ quan điều tra đã Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trao trả cho anh Nguyễn Thiệu Tiến (Là anh trai A) theo đề nghị của A.

Đối với 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max gắn 01 sim và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1202 vỏ màu xanh, bên trong lắp 01 sim đều là điện thoại của A sử dụng, chuyển Tòa án nhân dân huyện Đông Anh giải quyết theo thẩm quyền.

Đối với hành vi ôm, sờ ngực và kéo váy chị Dương Thị Thu Hương mà không được sự đồng ý của chị Hương của Nguyễn Thiệu A, ngày 23/5/2022, Công an huyện Đông Anh quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với A bằng hình thức phạt tiền, mức phạt 6.500.000 đồng về hành vi vi phạm quy định tại điểm đ khoản 5 Điều 7 Nghị định 144/2021/NĐ-CP.

Về dân sự: Gia đình Nguyễn Thiệu A đã bồi thường cho chị B số tiền 120.000.000 đồng; Bồi thường cho chị Hương số tiền 40.000.000 đồng. Sau khi nhận tiền, chị Hương và chị B không yêu cầu bồi thường thêm và đều có đơn xin bãi nại và đề nghị cơ quan công an đình chỉ điều tra vụ án đối với Nguyễn Thiệu A.

Cáo trạng số 93/CT-VKSĐA ngày 31/5/2022 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh quyết định truy tố Nguyễn Thiệu A về tội Cố ý gây thương tích theo quy định tại Điểm đ Khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa,

- Bị cáo Nguyễn Thiệu A Do xác định ngày 03/01/2022, do bị cáo uống say nên không nhớ sự việc đã xảy ra và không biết có gây thương tích cho chị B và chị Hương hay không. Sau khi được phân tích, giải thích pháp luật, bị cáo xác định nếu bị cáo có gây thương tích cho chị B và chị Hương thì hành vi của bản thân là vi phạm pháp luật và mong được sự khoan hồng của pháp luật. Bị cáo xác nhận đã nhờ gia đình bồi thường cho chị B số tiền 120.000.000 đồng; Bồi thường cho chị Hương số tiền 40.000.000 đồng và chấp hành nộp tiền phạt xong đối với 02 Quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

Chị Đặng Thị Hằng B vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt và không có yêu cầu gì thêm.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh giữ quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích nội dung, tính chất của vụ án, một lần nữa khẳng định việc truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật như Cáo trạng đã nêu là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử:

- Xử phạt: Nguyễn Thiệu A từ ………….. tháng đến ………. tháng tù.

- Về trách nhiệm dân sự: Các bên đã tự giải quyết xong và không có yêu cầu gì khác nên không đặt ra xem xét giải quyết.

- Về xử lý vật chứng: Trả lại bị cáo 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max gắn 01 sim và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1202 vỏ màu xanh, bên trong lắp 01 sim.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đông Anh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

[2] Về hành vi và tội danh của bị cáo:

- Lời khai của bà Nguyễn Thị Mai Chúc (BL 213, 214) thể hiện: Tối ngày 03/01/2022, có 02 người phụ nữ vào nhà A. Sau đó, bà mở của phòng A thấy 01 phụ nữ mặc váy đen đang ôm, hôn A trên giường. A vùng dậy nói “Không lừa được bố mày đâu”. Thấy A vùng dậy, 02 người phụ nữ bỏ chạy. Khi xuống tầng 1 phòng khách, A có đánh 01 người phụ nữ (Cụ thể ai không nhớ). Bà có nói với 01 phụ nữ mặc váy đen quỳ xuống xin A để được tha và bảo người giúp việc mở cửa cho 02 người phụ nữ này đi ra ngoài nhà.

- Lời khai của bà Nguyễn Thị Hận (Giúp việc nhà bà Chúc và A) (BL 215, 216, 217) thể hiện: Khoảng 20h20’ ngày 03/01/2022, A gọi điện cho bà bảo mở cổng. Bà thấy A ngồi xe cùng 02 người phụ nữ và mấy người đàn ông. Sau đó, mấy người đàn ông khoảng 10 phút sau về hết, chỉ còn 02 người phụ nữ dìu A lên phòng ngủ tầng 2. Đến khoảng 21h30’, bà nghe thấy tiếng A chửi 02 người phụ nữ này và 02 người này xin lỗi A. Khi xuống phòng khách tần 1, A vẫn chửi 02 người này. Khi người phụ nữ mặc đồ đen đi r axe ô tô cất đồ thì bà thấy người này dùng tay ôm, che mặt bên phải nên bà nghĩ họ vừa bị A đánh và mở cửa cho họ về. Khi bị A chửi, 02 người phụ nữ này chỉ xin lỗi, không có phản kháng gì, 01 người hoảng sợ chạy ra cổng.

- Lời khai của chị Hà Phương Nhung (Gần nhà A) (BL 304-305) thể hiện: Khoảng 22h00’ ngày 03/01/2022, khi chị đang ở nhà thì có 01 người phụ nữ chạy vào nhà chị nhờ gọi điện báo cho công an. Đặc điểm của người này mặc bộ quần áo mào đen, môi bị sưng, chẩy máu; mắt trái sưng tím, thái độ rất hoảng hốt và lo sợ.

- Lời khai của bị cáo Nguyễn Thiệu A thể hiện: Đây là lần đầu tiên A gặp chị Hương, chị B và trong suốt quá trình gặp gỡ, hai bên không xảy ra mâu thuẫn, to tiếng gì. Từ khi A gặp chị Hương, chị B cho đến khi chị Hương, chị B về nhà A thì A không thấy 02 người này bị thương tích gì. Hôm đó, bị cáo sử dụng rất nhiều rượu và bị say không nhớ gì, tuy nhiên bị cáo không bị bệnh gì phải điều trị liên quan đến thần kinh. Khi tất cả mọi người về hết, chỉ còn bị cáo, chị B, chị Hương ở nhà bị cáo. Đối với hình ảnh 01 đối tượng trên tay phải cầm một vật (Giống cái chày) trong Kết luận giám định đầu thu camera tạm giữ nhà bị cáo, bị cáo xác định đối tượng này chính là mình.

- Lời khai của chị Dương Thị Thu Hương và Đặng Thị Hằng B thể hiện: Đây là lần đầu tiên 02 chị gặp A và trong suốt quá trình gặp gỡ, hai bên không xảy ra mâu thuẫn, to tiếng gì, chính A là người rủ 02 chị ở lại nhà A ngủ. Khi chị Hương và chị B nằm trên giường, A vào nằm giữa ôm, kéo váy chị Hương và dùng tay sờ ngực chị Hương thì bị chị Hương đẩy ra. A lấy điện thoại gọi cho anh Trần Văn Dương và anh Nguyễn Khắc Tho bảo gọi ông Quyết đến, dọa sẽ giết chị Hương và chị B. Chị B nghe thấy, xin lỗi A. A liền dùng chân, tay đấm, đá liên tiếp vào vùng đầu, mặt chị B. Chị Hương can ngăn, cũng bị A dùng tay tát một cái vào má. Chị Hương cùng chị B bỏ chạy xuống tầng 1 thì bị A giữ lại ở phòng khách. A tiếp tục dùng chân, tay đánh chị B thì bà Chúc ra can ngăn. Nhân lúc bà Chúc ra can ngăn, chị Hương và chị B bỏ chạy được ra ngoài. A liền cầm theo 01 cái chày gỗ đuổi theo ra ngoài cổng tìm chị Hương, chị B nhưng không thấy nên quay vào trong nhà.

Căn cứ lời khai của các bị cáo, bị hại, người làm chứng, bản ảnh trích xuất từ camera nhà A và các tài liệu, chứng cứ khác tại cơ quan điều tra và kết quả tranh tụng công khai tại phiên toà Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

- Sau khi mọi người về hết, chỉ còn A, chị Hương, chị B ở nhà A, chị Hương, chị B lúc này không có dấu hiệu bị thương tích gì. Đến khoảng 22h00’, chị Hương, chị B xuất hiện thương tích trên người. Giấy chứng nhận thương tích số 03/CNTT- BVĐA ngày 14/01/2022 của Bệnh viện đa khoa Đông Anh (BL 39) ghi nhận thương tích của chị B: Sưng nề, bầm tím quanh mắt trái, sưng nề góc hàm bên trái, sưng nề kèm giật da môi trên, sưng đau sống mũi, sưng nề vùng đỉnh trái 2x3cm, sưng nề vùng thái dương phải 2x3cm, sưng nề vùng chẩm 2x3cm, CT không có tổn thương nội sọ, bị gãy xương chính mũi. Giấy chứng nhận thương tích số 02/CNTT- BVĐA ngày 14/01/2022 của Bệnh viện đa khoa Đông Anh (BL 40) ghi nhận thương tích của chị Hương: 01 vết lằn da vùng cổ. Các thương tích này phù hợp với lời khai của chị Hương và chị B về việc bị A dùng tay chân đánh. Lời khai của bà Nguyễn Thị Mai Chúc và bà Nguyễn Thị Hận thể hiện A có đánh 01 người phụ nữ và người này ôm mặt khi chạy ra xe ô tô. Đối với hình ảnh 01 đối tượng trên tay phải cầm một vật (Giống cái chày) trong Kết luận giám định đầu thu camera tạm giữ nhà A, A cũng xác nhận đối tượng này chính là mình phù hợp với lời khai của chị Hương và chị B về việc bị A cầm chày đuổi theo ra đến cổng. Do đó, thương tích của chị Dương Thị Thu Hương và Đặng Thị Hằng B được khẳng định do bị cáo A gây ra.

- Nguyên nhân sự việc: Các bên đều khẳng định đây là lần đầu tiên A và chị Hương, chị B gặp nhau và trong suốt quá trình gặp gỡ đến khoảng 21h30’ ngày 03/01/2022, hai bên không xảy ra mâu thuẫn, to tiếng gì. Trong khoảng thời gian ngắn khoảng 30 phút sau đó thì xảy ra mâu thuẫn, bị cáo khai do say rượu không nhớ gì nhưng lời khai người làm chứng thể hiện bị cáo liên tục chửi và đe dọa chị Hương, chị B, không rõ lý do. Tuy nhiên nếu có lý do, trong thời gian ngắn và tình trạng của bị cáo như vậy thì cũng có thể chỉ là lý do nhỏ nhặt, bắt nguồn từ sinh hoạt, lối sống và từ mối quan hệ mới quen biết giữa hai bên.

- Địa điểm xảy ra hành vi: Tại nhà của bị cáo A một cách công khai.

- Diễn biến sự việc: Hành vi chửi, đe dọa, đánh đập chị B và chị Hương của bị cáo diễn ra liên tục từ khoảng 21h30’ đến khi chị Hương, chị B chạy thoát được ra ngoài lúc 22h.

- Về tương quan: Bị cáo là đàn ông, lại là chủ nhà và có nhiều mối quan hệ xã hội. Các bị hại đều là phụ nữ, lại ở nơi khác đến nên bị cáo chiếm lợi thế và hoàn toàn chủ động trước các bị hại. Trước khi chỉ còn 03 người ở nhà bị cáo, chị Hương, chị B không có lời nói, hành động gì thách thức, đe dọa trực tiếp với bị cáo. Khi bị bị cáo chửi, dọa dẫm và đánh đạp, theo nhân chứng khai thì chị B, chị Hương cũng không có hành động gì đáp trả cũng như phản kháng đối với bị cáo, chỉ liên tục xin lỗi và xin bị cáo dừng lại, thái độ rất hoảng sợ.

Từ những phân tích trên, có thể khẳng định bị cáo A có hành vi côn đồ, đã dùng tay chân đánh gây thương tích cho chị B và chị Hương. Tỷ lệ tổn hại sức khỏe của chị B là 12%. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội vì không những đã xâm phạm trực tiếp đến quyền được bảo vệ tính mạng, sức khỏe của người khác mà còn gây ra hậu quả nặng nề và nghiêm trọng, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự và an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ, nhận thức được hành vi và hậu quả do hành vi của mình gây ra, song do thiếu tu dưỡng và ý thức coi thường pháp luật, bị cáo vẫn cố tình thực hiện.

Do đó, hành vi của bị cáo Nguyễn Thiệu A phạm tội: Cố ý gây thương tích. Tội phạm và hình phạt được quy định tại Điểm đ Khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự. Nội dung điều luật quy định:

“1. Người nào Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11 đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

i,Có tính chất côn đồ;”

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm:

đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này”.

Việc đưa bị cáo ra xét xử và có mức hình phạt thỏa đáng nhằm mục đích giáo dục các bị cáo trở thành người có ích cho xã hội, đồng thời đấu tranh, tuyên truyền, phòng chống tội phạm nói chung và thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật là cần thiết.

Đối với hành vi ôm, sờ ngực và kéo váy chị Dương Thị Thu Hương mà không được sự đồng ý của chị Hương của Nguyễn Thiệu A, ngày 23/5/2022, Công an huyện Đông Anh quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với A bằng hình thức phạt tiền, mức phạt 6.500.000 đồng về hành vi vi phạm quy định tại điểm đ khoản 5 Điều 7 Nghị định 144/2021/NĐ-CP là có căn cứ.

[3] Về nhân thân và tiền án, tiền sự của bị cáo:

- Ngày 12/11/1991, bị cáo bị Tòa án nhân dân tối cao xử phạt 01 năm tù, cho hưởng án treo về tội Cưỡng đoạt tài sản. Như vậy, án tích đã được xóa.

- Ngày 21/11/2011, Tòa án nhân dân tối cao xử phạt 11 năm 06 tháng tù về các tội: Giết người, Cố ý gây thương tích và Hủy hoại tài sản. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 28/8/2020. Như vậy, án tích chưa được xóa.

- Ngày 12/7/2006, Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội ra Quyết định đình chỉ điều tra bị can, Quyết định đình chỉ vụ án hình sự về tội: Cố ý gây thương tích.

- Ngày 27/01/2022, Công an huyện Đông Anh, Thành phố Hà Nội ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền, mức phạt 3.000.000 đồng về hành vi Xâm hại sức khỏe người khác. Đã chấp hành xong.

- Ngày 23/5/2022, Công an huyện Đông Anh, Thành phố Hà Nội ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền, mức phạt 6.500.000 đồng về hành vi Vi phạm an ninh, trật tự, an toàn xã hội, phòng chống tệ nạn xã hội. Đã chấp hành xong.

[4] Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Tình tiết tăng nặng: Bị cáo phải chịu tình tiết tái phạm quy định tại Điểm h Khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

- Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo tại phiên tòa đã nhận thức được hành vi vi phạm pháp luật, thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải; Sau khi xảy ra sự việc đã chủ động bồi thường cho bị hại và nộp phạt đầy đủ theo các quyết định xử phạt vi phạm hành chính; Chị Đặng Thị Hằng B và Dương Thị Thu Hương đều có đơn xin rút yêu cầu khởi tố; Bị cáo đang điều trị bệnh rối loạn nhân cách nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[5] Về hình phạt chính: Khi lượng hình, Hội đồng xét xử xét đến nhân thân; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và toàn bộ diễn biến vụ án để từ đó có hình phạt tương xứng với mức độ và hành vi phạm tội, cụ thể: Bị cáo phạm tội nghiêm trọng, lại tái phạm. Do đó, cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, tương xứng với mức độ hành vi, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng răn đe, giáo dục các bị cáo. Tuy nhiên, bị cáo phạm tội trong tình trạng không được tỉnh táo, có dấu hiệu và đang uống thuốc về rối loạn nhân cách, rối loạn lưỡng cực và có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự như đã đánh giá ở trên nên cần giảm nhẹ một phần hình phạt, cho bị cáo được hưởng mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng quy định tại Khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Các bên đã tự giải quyết xong và không có yêu cầu gì khác nên không đặt ra xem xét giải quyết.

[7] Về vật chứng vụ án: Cần áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự để:

Cho thi hành trả lại bị cáo 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max gắn 01 sim và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1202, bên trong lắp 01 sim do không chứng minh được bị cáo sử dụng vào hành vi phạm tội.

Đối với 01 chiếc giày cao gót màu đen, là tài sản của chị Dương Thị Thu Hương và 01 đầu thu camera nhãn hiệu HIKVISION màu trắng là tài sản của bị cáo A, không liên quan đến tội phạm nên Cơ quan điều tra đã Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trao trả cho các chủ sở hữu là có căn cứ.

[8] Quan điểm của Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh giữ quyền công tố tại phiên toà về hình phạt chính, hình phạt bổ sung đối với bị cáo, là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật. Không có cơ sở để xem xét chấp nhận luận cứ và quan điểm của các Luật sư đưa ra tại phiên tòa.

[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo; Bị hại; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo theo luật định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thiệu A phạm tội: Cố ý gây thương tích.

2. Về hình phạt chính:

Căn cứ Điểm d Khoản 2 Điều 134; Điểm h Khoản 1 Điều 52; Điểm b, s Khoản 1 Khoản 2 Điều 51; Điều 38; Khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự;

Xử phạt: Nguyễn Thiệu A 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/01/2022.

3. Về vật chứng vụ án:

Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật hình sự;

Cho thi hành trả lại bị cáo 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max gắn 01 sim và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1202 gắn 01 sim.

(Chi tiết, tình trạng, đặc điểm, số lượng theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 09/6/2022 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra- Công an huyện Đông Anh với Chi cục thi hành án dân sự huyện Đông Anh).

4. Về án phí:

- Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo:

Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự;

Án xử công khai sơ thẩm. Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại và Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định pháp luật. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án chỉ có quyền kháng cáo phần Bản án hoặc quyết định có liên quan trực tiếp đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình./.

Cỡ chữ