vanban.org

Bản án 106/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương Tuyên án 15/11/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn TrọngB phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng B 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15 tháng 6 năm 2022. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn TrọngB phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn TrọngB phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÀU BÀNG
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 106/2022/HS-ST
Ngày 15-11-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÀU BÀNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đăng Khoa.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Độ;

Ông Nguyễn Quốc Dũng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Phương, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Giang - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 78/2022/TLST-HS ngày 07 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 88/2022/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 11 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương, đối với bị cáo:

Nguyễn Trọng B, sinh năm 2000 tại Hà Tĩnh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: tổ dân phố Song Y, thị trấn TC, huyện CX, tỉnh HT; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Trọng D và bà Nguyễn Thị V; tiền án: không; tiền sự: không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15 tháng 6 năm 2022 đến nay, có mặt.

- Bị hại: Bà Phạm Hải Y, sinh năm 2003; địa chỉ: tổ dân phố 9, thị trấn Kbang, huyện Kbang, tỉnh Gia Lai, vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Nguyễn Trọng D, sinh năm 1974; nơi cư trú: tổ dân phố Song Yên, thị trấn Thiên Cầm, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Trọng B và Phạm Hải Yến là những người cùng sinh sống chung trong nhà trọ Mai Ngân thuộc khu phố Bàu Bàng, thị trấn Lai Uyên, huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương. Do cùng sinh sống tại dãy trọ nênB để ý thấy chị Yến cắm sẵn chìa khóa trên xe mô tô nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản cụ thể như sau:

Khoảng 19 giờ ngày 12 tháng 6 năm 2022,B phát hiện phòng trọ số 02 của chị Yến có để một xe mô tô nhãn hiệu Yamaha loại Sirius biển số 81H1 - 250.80 màu đỏ đen trước cửa phòng trọ đang cắm chìa khóa trên xe nênB lén lút rút chìa khóa rồi cất giấu trong người và trở về phòng của mình. Đến 20 giờ 30 phút ngày 14 tháng 6 năm 2022,B phát hiện chị Yến để xe mô tô trên ở trước cửa phòng trọ và khóa cửa bên trong nên nảy sinh ý định trộm xe và bỏ trốn.B quay về phòng trọ của mình rồi thu dọn quần áo bỏ vào ba lô. Sau đó, lén lút lấy chìa khóa xe mà đã trộm trước đó mở xe rồi điều khiển xe môtô chạy ra khỏi phòng trọ. Lúc này chị Yến phát hiện xe mình bị trộm nên đã truy hô mọi người trong dãy trọ đuổi theo. Khi nghe tiếng hô của chị Yến anh Nguyễn Trọng Hiếu dùng xe mô tô của mình đuổi theo đến đoạn đường NC khu công nghiệp Bàu Bàng thì phát hiện raB đang điều khiển xe mô tô của chị Yến nên đã gọi người dân giúp đỡ.B thấy vậy thì bỏ xe lại và trốn vào nhà nghỉ thuộc khu phố Bàu Bàng, thị trấn Lai Uyên, huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương thuê phòng số 31 lầu 3 để trốn. Sau đó, thông qua kiểm tra Công an thị trấn Lai Uyên đã phát hiện và bắt giữB, tại Cơ quan điều traB khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Ngày 15 tháng 6 năm 2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bàu Bàng đã ra quyết định yêu cầu hội đồng định giá trong tố tụng hình sự định giá 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius biển số 81H1 - 250.80 màu đỏ đen. Ngày 15 tháng 6 năm 2022, Hội đồng định giá tài sản có kết luận: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha hiệu sirus biển số 81H1 - 250 80 màu đỏ đen có số khung RLCUE3720MY080041 số máy E32VE491204 đăng ký lần đầu ngày 28 tháng 01 năm 2022 có giá 17.800.000 đồng.

Đối với xe mô tô nhãn hiệu Yamaha loại Sirius biển số 81H1 – 250.80 màu đỏ đen là tài sản cá nhân của chị Yến nên ngày 27 tháng 6 năm 2022 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bàu Bàng đã ra quyết định xử lý tài sản trao trả lại chiếc xe trên cho chị Yến. Chị Yến nhận lại xe và không có yêu cầu gì thêm.

Về phần dân sự: Ông Nguyễn Trọng Dương là cha ruột của bị cáoB đã thay mặt bị cáo hỗ trợ chi phí đi lại cho bị hại số tiền 5.000.000 đồng. Bị hại đã nhận đủ số tiền trên và làm đơn bãi nại cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Nguyễn Trọng B đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”.

Quá trình điều tra bị cáo, bị hại không có ý kiến gì về các vấn đề trên.

Bản Cáo trạng số 83/CT-VKSBB ngày 06 tháng 10 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương truy tố các bị cáo Nguyễn Trọng B về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa,

Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo xử phạt bị cáo từ 08 (tám) tháng tù đến 11 (mười một) tháng tù.

Bị cáo không tranh luận.

Bị hại vắng mặt tại phiên tòa nên không ghi nhận được ý kiến tranh luận.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa nên không ghi nhận được ý kiến tranh luận.

Bị cáo nói lời nói sau cùng: hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, bị cáo rất hối hận, bị cáo mong được hưởng sự khoan hồng của pháp luật để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo khai nhận: Khoảng 20 giờ 30 phút, ngày 14 tháng 6 năm 2022 tại nhà trọ Mai Ngân, thuộc khu phố Bàu Bàng thuộc thị trấn Lai Uyên, huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương, bị cáoB lén lút lấy trộm xe mô tô nhãn hiệu Yamaha loại Sirius biển số 81H1-250.80 của bị hại. Giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt của bị hại là 17.800.000 đồng. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ, phù hợp với nội dung Cáo trạng và diễn biến tại phiên tòa. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung 2017. Do đó, Cáo trạng truy tố bị cáo tội “Trộm cắp tài sản” là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Xét hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo nhận thức rõ hành vi trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật hình sự và sẽ bị xử lý nhưng vì động cơ tham lam, tư lợi nên bị cáo đã cố ý phạm tội. Như vậy, cần xử phạt bị cáo mức án tương xứng với tính chất hành vi phạm tội, đủ để giáo dục răn đe các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo như sau:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện khắc phục hậu quả. Bị hại có đơn bãi nại cho bị cáo theo quy định tại các điểm b, i, s khoản 1 và khoản Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Mức hình phạt theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà đối với bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về trách nhiệm dân sự: ông Nguyễn Trọng Dương (cha bị cáo) đã thỏa thuận giao bị hại 5.000.000 đồng khắc phục hậu quả, bị hại không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Ông Nguyễn Trọng Dương không yêu cầu bị cáo trả lại số tiền trên nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Nguyễn Trọng B;

Căn cứ các Điều 99, 292 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Căn cứ Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn TrọngB phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng B 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15 tháng 6 năm 2022.

2. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn TrọngB phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo:

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tòa tuyên án.

Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Cỡ chữ