vanban.org

Bản án 106/2022/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Bình Định Tuyên án 22/06/2022 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 22/06/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Đào Duy H. Sửa bản án sơ thẩm.

Xử phạt bị cáo Đào Duy H 06 (Sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án. Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Đào Duy H không phải chịu. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Đào Duy H. Sửa bản án sơ thẩm.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số Số: 01/2022/NQ-HĐTP Sửa đổi, bổ sung một số đi…; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 106/2022/HS-PT
Ngày 22 - 6 - 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Thường

Các Thẩm phán:

Bà Nguyễn Thị Hoài Xuân

Ông Lê Văn Duy

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Trang là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Bà Hồ Kim Yến – Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 6 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 65/2022/TLPT-HS ngày 09 tháng 5 năm 2022 đối với bị cáo Đào Duy H do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 40/2022/HS-ST ngày 31 tháng 3 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Bình Định.

- Bị cáo có kháng cáo:

Đào Duy H, sinh ngày 18/5/1995 tại thị xã H, tỉnh Bình Định; nơi cư trú: Thôn C, xã H, thị xã H, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; bị cáo là Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam; con ông Đào Duy T (chết) và bà Nguyễn Thị T, sinh năm: 1967; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 30/9/2021, Đào Duy H điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 77F7-56XX mang theo một cây kìm cộng lực dài 35cm, cán kim loại màu vàng, bọc nhựa tay cầm màu đen đi đến Chùa B ở thôn L, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định để trộm cắp tài sản. Khi đến nơi, H dựng xe cạnh tường rào phía trước chùa rồi đứng lên yên xe, mang theo cây kìm cộng lực trèo qua tường rào đi vào trong chùa. Lợi dụng lúc ông Nguyễn Văn H1 (Trụ trì Chùa B) đang tụng kinh tại chánh điện, H lén lút dùng kìm cắt khóa phòng, đột nhập vào phòng cá nhân của ông H1 lấy trộm 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J7 màu bạc và 6.500.000 đồng. Sau khi lấy trộm tài sản, H nghe tiếng động, sợ bị phát hiện nên bỏ điện thoại, tiền vào túi quần, cầm cây kìm bỏ chạy ra khỏi phòng. H chạy đến tường rào phía trước chùa để cây kim lên trên tường rào rồi chạy ra phía sau chùa nhảy qua hàng rào bỏ trốn, để lại xe mô tô biển kiểm soát 77F7-56XX trước chùa. Sau đó, H đi nhờ xe người đi đường về lại phòng trọ ở số 10 đường T, phường N, thành phố Q, tỉnh Bình Định cất giấu tài sản đã trộm được. H đã tiêu xài hết 150.000 đồng trong số tiền đã trộm được. Ngày 02/10/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T triệu tập H làm việc và H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nói trên. Theo Bản kết luận định giá tài sản số 223/KL-HĐ ngày 06/10/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T thì điện thoại di động Samsung Galaxy J7 màu bạc có giá trị tại thời điểm bị trộm là 2.300.000 đồng. Tổng giá trị tài sản mà Hảo đã trộm cắp của ông H1 vào ngày 30/9/2021 là 8.800.000 đồng.

Ngoài vụ trộm cắp trên, H còn khai nhận đã thực hiện 02 vụ trộm cắp khác trên địa bàn huyện T, cụ thể:

Vụ thứ nhất: Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 06/8/2021, H điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 77F7-56XX đến Chùa B ở thôn L, xã P, huyện T để trộm cắp tài sản. Lợi dụng lúc ông Nguyễn Văn H1 đang tụng kinh tại chánh điện, H lén lút đến phòng cá nhân của ông H1 dùng tay giật mạnh làm bung ổ khóa tay nắm, vào trong phòng lấy trộm 01 điện thoại di động Iphone7 Plus màu trắng bạc và 7.000.000 đồng của ông H1 để trên bàn gỗ gần cửa ra vào. H đã bán điện thoại trên cho một người lạ mặt (không xác định được nhân thân, lai lịch) với giá 2.100.000 đồng. H đã tiêu xài hết số tiền 9.100.000 đồng. Theo Bản kết luận định giá tài sản số 155/KL-HĐ ngày 16/8/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T thì điện thoại di động Iphone7 Plus màu trắng bạc có giá trị tại thời điểm bị trộm là 3.500.000 đồng. Tổng giá trị tài sản mà Hảo đã trộm cắp của ông H1 vào ngày 06/8/2021 là 10.500.000 đồng.

Vụ thứ hai: Vào khoảng 21 giờ 30 phút ngày 13/9/2021, H điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 77F7-5614 đến nhà ông Lê Văn H2 ở thôn V, xã P, huyện T để trộm cắp tài sản. Khi đến cách nhà ông H2 khoảng 15m, H dựng xe đi bộ đến nhà ông H2. Thấy cửa ra vào bên hông nhà ông H2 mở, H lén lút vào nhà lấy 01 điện thoại di động hiệu Oppo A15 màu đen và 2.300.000 đồng để trong ví của ông H2 để ở chân giường xếp nơi ông H2 nằm ngủ rồi quay ra lấy xe mô tô tẩu thoát. H đã bán điện thoại trên cho một người lạ mặt (không xác định được nhân thân, lai lịch) với giá 1.700.000 đồng. H đã tiêu xài hết số tiền 4.000.000 đồng. Theo Bản kết luận định giá tài sản số 214/KL-HĐ ngày 01/10/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T thì điện thoại di động hiệu Oppo A15 màu đen có giá trị tại thời điểm bị trộm là 1.700.000 đồng. Tổng giá trị tài sản mà H đã trộm cắp của ông H2 là 4.000.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản mà H đã trộm cắp trong 03 vụ trộm cắp tài sản nói trên là 23.300.000 đồng.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 40/2022/HS-ST ngày 31/3/2022, Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Bình Định đã căn cứ khoản 1 Điều 173; các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Đào Duy H 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về phần xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 12/4/2022, bị cáo Đào Duy H kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.

Tại phiên tòa, bị cáo Đào Duy H giữ nguyên kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Đào Duy H, sửa bản án sơ thẩm, xử phạt bị cáo 06 tháng tù.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo có trong hồ sơ vụ án và phù hợp với các chứng cứ khác nên có đủ cơ sở xác định:

Trong khoảng thời gian từ ngày 06/8/2021 đến ngày 30/9/2021 trên địa bàn huyện T, Đào Duy H đã có hành vi 02 lần trộm cắp tài sản của ông Nguyễn Văn H1 - Trụ trì Chùa B ở thôn L, xã P và 01 lần trộm cắp tài sản của ông Lê Văn H2 ở thôn V, xã P. Tổng trị giá tài sản của người khác mà H đã trộm cắp trong 03 lần nói trên là 23.300.000 đồng.

Do đó, Bản án hình sự sơ thẩm số 40/2022/HS-ST ngày 31/3/2022 của Tòa án nhân dân huyện T đã xét xử bị cáo Đào Duy H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là đúng quy định của pháp luật.

Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo của bị cáo Đào Duy H, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng:

Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương.

Bị cáo có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phạm tội 02 lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự và có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho các bị hại và các bị hại đã có đơn xin giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo, bị cáo có nhân thân tốt và đã có thời gian thực hiện nghĩa vụ tham gia Công an nhân dân quy định tại các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Bản án hình sự sơ thẩm chưa xem xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là bị cáo có nhân thân tốt và đã có thời gian thực hiện nghĩa vụ tham gia Công an nhân dân. Căn cứ tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nói trên, Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo 12 tháng tù là nghiêm khắc.

Căn cứ quy định tại Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì bị cáo không đủ điều kiện được hưởng án treo.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Đào Duy H và không chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo, chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định, sửa bản án sơ thẩm.

Theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường Vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì bị cáo Đào Duy H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Căn cứ khoản 1 Điều 173; các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường Vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Đào Duy H. Sửa bản án sơ thẩm.

2. Xử phạt bị cáo Đào Duy H 06 (Sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.

3. Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Đào Duy H không phải chịu.

4. Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ