vanban.org

Bản án 106/2022/HNST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về án phí, lệ phí tòa án.

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho bà Hà Kim Ng được ly hôn với ông Phùng Trung Th. Về con chung: Giao cháu Phùng Hà Nhật H (nam) sinh ngày 15/5/2021 cho bà Hà Kim Ng trực tiếp nuôi dưỡng đến khi trưởng thành (đủ 18 tuổi). Ông Phùng Trung Th không cấp dưỡng nuôi con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "HÀ KIM NG - PHÙNG TRUNG TH"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về án phí, lệ phí tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN N
THÀNH PHỐ C

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 106/2022/HNST
Ngày: 07/10/2022
V/v "Xin ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN N

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Tr

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Minh Ph

2. Bà Nguyễn Thị Ngọc Th

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Trần Thị Kiều Tr – Thư ký Tòa án nhân dân quận N.

Trong ngày 07 tháng 10 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận N xét xử sơ thẩm vụ án thụ lý số: 275/2022/TLST-HN ngày 25 tháng 5 năm 2022. Về việc: "Xin ly hôn". Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 813/2022/QĐST-HN ngày 19 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân quận N , giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Hà Kim Ng sinh năm 1998 (Có đơn xin vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp Phú Thuận, xã Th, huyện M, tỉnh S.

Bị đơn: Ông Phùng Trung Th sinh năm 1998 (Vắng mặt)

Địa chỉ: 106, Chung cư B4, khu dân cư 91B, phường A, quận N, thành phố C.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn xin ly hôn và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ nguyên đơn trình bày:

Bà và ông Th tự nguyện đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn ngày 15/6/2021 tại UBND phường A, quận N, thành phố C. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, thường xuyên tranh cãi, không tìm được tiếng nói chung. Ông Th không có trách nhiệm với vợ con. Nay nhận thấy đời sống chung không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn. Bà Ng khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:

- Về quan hệ hôn nhân: Xin ly hôn với ông Phùng Trung Th.

- Về con chung: Ông bà có 01 con chung là Phùng Hà Nhật H (nam) sinh ngày 15/5/2021. Sau khi ly hôn bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông Th cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Phùng Trung Th đã được Tòa án cấp tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vắng mặt. Tại phiên tòa hôm nay, bà Hà Kim Ng có đơn xin xét xử vắng mặt. Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng:

- Về quan hệ pháp luật: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu xin ly hôn với bị đơn căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 123 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận N.

- Về sự vắng mặt các đương sự: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay bị đơn ông Phùng Trung Th có hộ khẩu thường trú tại số 106, Chung cư B4, khu dân cư 91B, phường A, quận N, thành phố C. Tòa án đã tiến hành thủ tục cấp tống đạt văn bản tố tụng cho bị đơn hợp lệ nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt tại phiên tòa theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Xét về nội dung vụ án:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Hà Kim Ng và ông Phùng Trung Th xây dựng hôn nhân trên cơ sở tự nguyện và được UBND phường A, quận N, thành phố C cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 15/6/2021. Quá trình chung sống giữa vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, đời sống chung không hạnh phúc. Vì mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, không khắc phục được cho nên giữa bà Ng và ông Thkhông có sự quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Bà Ng và cháu H chuyển về sống tại địa chỉ ấp Phú Thuận, xã Th, huyện M, tỉnh S. Bà Ng nhận thấy tình cảm giữa bà và ông Thành không còn và không thể hàn gắn được, mục đích hôn nhân không đạt được.

Trong thời gian chuẩn bị xét xử, Toà án tiến hành hoà giải tại bản tự khai và biên bản hòa giải ngày 17/6/2022 ông Th trình bày trong quá trình chung sống vợ chồng không có phát sinh mâu thuẫn như bà Ng trình bày. Ông bà đã ly thân từ đầu năm 2022 đến nay. Trong quá trình giải quyết vụ án, ông bà được Tòa án tạo điều kiện về mặt thời gian để cùng khắc phục khuyết điểm, hàn gắn tình cảm nhằm xây dựng gia đình hạnh phúc nhưng vẫn không thể hàn gắn tình cảm được. Hội đồng xét xử xét thấy giữa bà Ng và ông Th mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên thống nhất cho bà Ng ly hôn với ông Th theo quy định Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

- Về con chung: Ông bà có 01 con chung Phùng Hà Nhật H (nam) sinh ngày 15/5/2021. Bà Ng yêu cầu trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con cho đến khi trưởng thành (đủ 18 tuổi). Xét thấy bà Ng là người trực tiếp nuôi con từ khi sinh ra đến nay hơn nữa cháu H vẫn còn nhỏ nên cần phải có sự chăm sóc của mẹ để bảo đảm những quyền lợi thiết thực nhất cho con. Sau khi bà Ng và ông Th ly thân cháu H sống cùng bà Ng cho đến nay, bà Ng nuôi dưỡng cháu H bảo đảm sự phát triển bình thường. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của Ng được trực tiếp nuôi con chung trên cơ sở xem xét quyền lợi về mọi mặt của con, để con phát triển cả về thể chất lẫn tinh thần được quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

- Về vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung: Căn cứ đơn khởi kiện bà Ng không yêu cầu ông Thcấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Con chưa thành niên các bên đều có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Nên dành quyền đến thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con cho ông Th không ai được quyền ngăn cản. Tuy nhiên, khi người trực tiếp nuôi con không đảm bảo quyền lợi mọi mặt của con chung thì người không trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con theo quy định của pháp luật.

- Về tài sản chung, nợ chung: Bà Ng trình bày vợ chồng không có tài sản chung, không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tại bản tự khai và biên bản hòa giải ngày 17/6/2022 ông Th trình bày không có tài sản chung, không có nợ chung. Ngoài ra, do xét xử vắng mặt ông Th và bà Ng không yêu cầu giải quyết về tài sản chung và nợ chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. Nếu sau này phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ kiện khác. Từ những phân tích trên, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận.

Về án phí hôn nhân sơ thẩm:

Nguyên đơn bà Hà Kim Ng phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng), chuyển số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại phiếu thu số 0001999 ngày 28/4/2022 do Chi cục Thi hành án dân sự quận N đã thu sang thành án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng:

- Khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Khoản 1 Điều 207, khoản 1 Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;

- Điều 51, Điều 56, khoản 2 Điều 81, Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về án phí, lệ phí tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho bà Hà Kim Ng được ly hôn với ông Phùng Trung Th.

2. Về con chung: Giao cháu Phùng Hà Nhật H (nam) sinh ngày 15/5/2021 cho bà Hà Kim Ng trực tiếp nuôi dưỡng đến khi trưởng thành (đủ 18 tuổi). Ông Phùng Trung Th không cấp dưỡng nuôi con.

Dành quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con cho ông Phùng Trung Th không ai được quyền ngăn cản.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét giải quyết.

4. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn bà Hà Kim Ng phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng), chuyển số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại phiếu thu số 0001999 ngày 28/4/2022 do Chi cục Thi hành án dân sự quận N đã thu sang thành án phí.

Đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt thời hạn kháng cáo 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyên thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ