- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hà Thị Tâm - Nguyễn Văn Nghiệm"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Ghi nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Hà Thị T và anh Nguyễn Văn N.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| THỊ XÃ CỬA LÒ TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 106/2022/HNGĐ - ST Ngày: 18/11/2022 “Về việc tranh chấp hôn nhân gia đình” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CỬA LÒ, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Trần Văn Khánh
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Thúy Vân
Ông Nguyễn Đức Tình
- Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Thu Hiền – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cửa Lò tham gia phiên toà: Bà Phan Thị Vân Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Cửa Lò xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 98/2022/TLST - HNGĐ ngày 31/10/2022 về việc “Tranh chấp hôn nhân gia đình”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2022/QĐXXST - HNGĐ ngày 07 tháng 11 năm 2022 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Hà Thị T, sinh năm 1989
Địa chỉ: Khối 04, thị trấn D, huyện D, tỉnh Nghệ An
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn N, sinh năm 1971
Nơi ĐKHKTT: Khối H, phường N, thị xã C, tỉnh Nghệ An.
Hiện đang chấp hành án phạt tù tại Đội 34, phân trại số 02, trại giam số 03 thuộc C10 (Bộ Công an), địa chỉ: xã N, huyện T, tỉnh Nghệ An.
(Nguyên đơn, bị đơn đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện xin ly hôn ngày 25/10/2022, tại bản tự khai nguyên đơn chị Hà Thị T trình bày:
- 1 -
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Hà Thị T và anh Nguyễn Văn N kết hôn trên tinh thần tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 10/01/2020 tại UBND thị trấn Diễn Châu, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An. Sau khi kết hôn, hai vợ chồng chung sống hòa thuận đến tháng 11 năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do anh N sa đà vào tệ nạn ma túy, không tu chí làm ăn, vi phạm pháp luật, bị Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An xử phạt 03 năm 6 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Hiện anh N đang chấp hành án tại Đội 34, phân trại số 02, trại giam số 03 thuộc C10 (Bộ Công an). Do vợ chồng không còn tình cảm, mục đích hôn nhân không đạt được, chị Hà Thị T xin được ly hôn với anh Nguyễn Văn N.
- Về con chung: Chị Hà Thị T và anh Nguyễn Văn N không có con chung. Không yêu cầu tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung: Chị Hà Thị T và anh Nguyễn Văn N không có tài sản chung. Không yêu cầu tòa án giải quyết.
- Về khoản nợ: Chị Hà Thị T và anh Nguyễn Văn N không vay nợ ai, không cho ai vay nợ. Không yêu cầu tòa án giải quyết.
- Về án phí, chị Hà Thị T tự nguyện chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
Tại bản tự khai, quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Nguyễn Văn N trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Văn N và chị Hà Thị T kết hôn trên tinh thần tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 10/01/2020 tại UBND thị trấn Diễn Châu, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An. Sau khi kết hôn hai vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do anh N có hành vi vi phạm pháp luật, bị xử phạt tù, hiện đang chấp hành án tại Đội 34, phân trại số 02, trại giam số 03 thuộc C10 (Bộ Công an). Nay vợ chồng không còn tình cảm, mục đích hôn nhân không đạt được, chị Hà Thị T xin được ly hôn anh N hoàn toàn đồng ý.
- Về quan hệ con chung: Vợ chồng không có con chung không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về quan hệ tài sản chung và khoản nợ: Thống nhất với chị Hà Thị T, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký thực hiện đúng trình tự thủ tục theo quy định
- 2 -
của Bộ luật tố tụng Dân sự. Các đương sự chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 71, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, 55 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xử:
Về quan hệ hôn nhân: Ghi nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Hà Thị T và anh Nguyễn Văn N; Về con chung: Miễn xét. Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Ghi nhận sự tự nguyện của chị Hà Thị T về việc chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về tố tụng:
Đây là vụ án hôn nhân gia đình do chị Hà Thị T yêu cầu, nơi ĐKHKTT của bị đơn – anh Nguyễn Văn N ở khối H, phường N, thị xã C, tỉnh Nghệ An. Căn cứ khoản 1 Điều 28, 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho chị Hà Thị T, anh Nguyễn Văn N. Tuy nhiên chị T có đơn yêu cầu không tiến hành hòa giải; chị T, anh N có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do vậy, Tòa án không tiến hành hòa giải. Căn cứ vào Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị Hà Thị T, anh Nguyễn Văn N theo quy định.
. Về nội dung:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Hà Thị T và anh Nguyễn Văn N đăng ký kết hôn trên cơ sở tự nguyện ngày 10/01/2020 tại UBND thị trấn Diễn Châu, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An, đây là hôn nhân hợp pháp. Chị Hà Thị T và anh Nguyễn Văn N đều thừa nhận vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do anh N có hành vi vi phạm pháp luật, bị Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An xử phạt tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Hiện anh N đang chấp hành án tại Đội 34, phân trại số 02, trại giam số 03 thuộc C10 (Bộ Công an). Chị Hà Thị T và anh Nguyễn Văn N thống nhất ly hôn. Chị Hà Thị T có đơn đề nghị Tòa án không
- 3 -
tiến hành hòa giải, nhanh chóng đưa vụ án ra xét xử để hai bên sớm ổn định cuộc sống.
Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng chị Hà Thị T, anh Nguyễn Văn N thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Việc thuận tình ly hôn của chị T, anh N là hoàn toàn tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội. Vì vậy, căn cứ Điều 55 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử ghi nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Hà Thị T và anh Nguyễn Văn N.
- Về con chung: Chị Hà Thị T và anh Nguyễn Văn N không có con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về quan hệ tài sản chung và khoản nợ: Chị Hà Thị T, anh Nguyễn Văn N thống nhất không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
. Về án phí: Ghi nhận sự tự nguyện của chị Hà Thị T về việc chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 51, 55 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, 35, 39, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của ủy ban Thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Ghi nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Hà Thị T và anh Nguyễn Văn N.
2. Về con chung: Miễn xét.
3. Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Miễn xét.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- 4 -
4. Về án phí: Buộc chị Hà Thị T phải chịu 150.000đ (Một trăm năm mươi nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Cửa Lò. Trả lại cho chị Hà Thị T số tiền 150.000đ (Một trăm năm mươi nghìn đồng) theo biên lai số 0001148 ngày 31 tháng 10 năm 2022.
5. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định./.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND tỉnh Nghệ An; - VKSND thị xã Cửa Lò; - Chi cục THADS thị xã Cửa Lò; - UBND thị trấn Diễn Châu; - Lưu hồ sơ vụ án. - 5 - | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Khánh |