vanban.org

Bản án 106/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận chị Lê Thị Đ và anh Quách Thanh Đlà vợ chồng;

2/ Về con chung: Tiếp tục giao cháu Quách Hoàng Nhất, sinh ngày 08/04/2007 cho chị Lê Thị Đ nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Anh Đ không phải cấp dưỡng nuôi cháu Quách Hoàng Nhất, sinh ngày 08/04/2007 nhưng anh được quyền tới lui thăm nom, chăm sóc con chung không ai có quyền ngăn cản; 3/ Về tài sản … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyên đơn Lê Thị Đ và bị đơn anh Quách Thanh Đ"
  • Tòa quyết gì? 1/ Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận chị Lê Thị Đ và anh Quách Thanh Đlà vợ chồng;
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HỒNG DÂN
TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 106/2022/HNGĐ - ST
Ngày: 24/08/2022.
“V/v tranh chấp xin ly hôn và nuôi con”.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG DÂN

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông NGUYỄN VĂN KIỆT

- Các Hội thẩm nhân dân 1/ Ông LẠI THIỆN PHONG

2/ Ông DANH ON

- Thư ký phiên tòa: Bà Thái Kim Phƣơng – Thư ký Toà án nhân dân huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Hồng Dân tham gia phiên tòa: Ông DƢƠNG MINH KHA - Kiểm sát viên.

Trong ngày 24 tháng 08 năm 2022 tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Hồng Dân mở phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án thụ lý số: 187/2022/TLST–HNGĐ, ngày 09 tháng 06 năm 2022 về việc tranh chấp xin ly hôn và nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 97/2022/QĐXXST–HNGĐ, ngày 19 tháng 07 năm 2022 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Lê Thị Đ, sinh năm 1976

Địa chỉ: ấp N, xã N, huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu

2. Bị đơn: Anh Quách Thanh Đ, sinh năm 1977

Địa chỉ: ấp N, xã N, huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu.

(Chị Lê Thị Đ vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt; anh Quách Thanh Đvắng mặt không có lý do mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 31/05/2022 và tại bản tự khai ngày 09/06/2022 nguyên đơn chị Lê Thị Đ trình bày:

Về hôn nhân: Vào năm 1996, chị Đ và anh Đ có tổ chức đám cưới với nhau trên tinh thần tự nguyện, không ai ép buộc nhưng không có tiến hành đăng ký kết hôn. Thời gian đầu vợ chồng anh chị chung sống với nhau hạnh phúc nhưng được một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn, vợ chồng thường xuyên cự cải, bất đồng quan điểm trong cuộc sống và hiện tại hai vợ chồng đã sống ly thân với nhau từ năm 2020 đến nay. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị Đ yêu cầu được ly hôn với anh Đ.

Về con chung: Chị Đ xác định trong quá trình chung sống giữa chị Đ và anh Đ có 02 người con chung là cháu Quách Ra Sil, sinh năm 1997 và cháu Quách Hoàng Nhất, sinh ngày 08/04/2007. Hiện tại cháu Quách Ra Sil đã lớn và đã trưởng thành. Còn cháu Quách Hoàng Nhất, sinh ngày 08/04/2007 thì đang sống chung với chị Đ. Nay chị Đ xác định do cháu Quách Ra Sil đã lớn nên không yêu cầu giải quyết. Chị Đ yêu cầu được nuôi cháu Quách Hoàng Nhất và chị không yêu cầu cấp dưỡng cho cháu Nhất.

Về tài sản chung: Chị Đ xác định tự thỏa thuận và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngoài ra, chị Đ không có yêu cầu gì khác.

Đối với bị đơn anh Quách Thanh Đ: Tòa án có tiến hành giao thông báo thụ lý và tiến hành lấy lời khai đối với anh Quách Thanh Đnhưng anh Đ không có mặt ở địa phương nên không thể tiến hành giao thông báo thụ lý và không thể tiến hành lấy lời khai đối với anh Đ. Bên cạnh đó, Tòa án có tiến hành niêm yết các thủ tục theo qui định pháp luật do anh Đ không có mặt ở địa phương. Chính quyền địa phương cũng xác định, anh Đ vẫn còn đăng ký hộ khẩu thường trú tại ấp N, xã N, huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu và hiện tại không có ở địa phương nhưng lâu lâu anh Đ có về địa phương một lần.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng theo quy định pháp luật.

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Từ khi tham gia tố tụng cho đến nay, nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình. Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ.

- Ý kiến về việc giải quyết vụ án:

1. Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận chị Lê Thị Đ và anh Quách Thanh Đlà vợ chồng;

2. Về quan hệ con chung: Tiếp tục giao cháu Quách Hoàng Nhất, sinh ngày 08/04/2007 cho chị Lê Thị Đ nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Anh Quách Thanh Đkhông phải cấp dưỡng nuôi con chung nhưng anh được quyền tới lui thăm nom, chăm sóc con chung không ai có quyền ngăn cản;

3. Về quan hệ tài sản: Chị Lê Thị Đ không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Ngoài ra, đương sự còn phải chịu tiền án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Về quan hệ pháp luật: Chị Lê Thị Đ khởi kiện yêu cầu được ly hôn với anh Quách Thanh Đvà yêu cầu giải quyết về con chung nên căn cứ khoản 7 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án thụ lý giải quyết vụ án về “Tranh chấp xin ly hôn và nuôi con” là đúng quy định.

Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn anh Quách Thanh Đcó nơi đăng ký thường trú tại ấp N, xã N, huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì Tòa án nhân dân huyện Hồng Dân thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.

Nguyên đơn chị Lê Thị Đ tuy rằng vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn yêu cầu được xét xử vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt đối với chị Đ. Bị đơn anh Quách Thanh Đvắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ điểm b, khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt đối với anh Quách Thanh Đ.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Đ yêu cầu xin ly hôn với anh Quách Thanh Đ, Hội đồng xét xử xét thấy: Chị Đ thừa nhận vào năm 1996, chị Đ có tổ chức đám cưới với anh Quách Thanh Đtrên tinh thần tự nguyện, không ai ép buộc nhưng đến nay anh, chị chưa tiến hành đăng ký kết hôn. Nay chị Đ xin ly hôn với anh Quách Thanh Đ. Tuy nhiên, theo Khoản 1 Điều 14 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 quy định: “Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này mà chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng”. Do đó, Hội đồng xét xử không công nhận chị Lê Thị Đ và anh Quách Thanh Đlà vợ chồng.

Về quan hệ con chung: Quá trình chung sống chị Đ xác định giữa chị Đ và anh Đ có 02 người con chung là cháu Quách Ra Sil, sinh năm 1997 và cháu Quách Hoàng Nhất, sinh ngày 08/04/2007. Hiện tại cháu Quách Ra Sil đã lớn và đã trưởng thành. Còn cháu Quách Hoàng Nhất, sinh ngày 08/04/2007 thì đang sống chung với chị Đ. Nay chị Đ xác định do cháu Quách Ra Sil đã lớn nên chị không yêu cầu giải quyết. Chị Đ yêu cầu được nuôi cháu Quách Hoàng Nhất và chị không yêu cầu cấp dưỡng cho cháu Nhất. Hội đồng xét xử xét thấy, cháu Quách Hoàng Nhất hiện đang sống ổn định với anh chị Đ, các cháu đã có môi trường và cuộc sống ổn định. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiếp tục giao cháu Quách Hoàng Nhất, sinh ngày 08/04/2007 cho chị Đ nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Anh Đ không phải cấp dưỡng nuôi con chung nhưng anh được quyền tới lui thăm nom, chăm sóc con chung không ai có quyền ngăn cản.

Về quan hệ tài sản: Chị Lê Thị Đ xác định tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì chị Lê Thị Đ phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng.

Về ý kiến phát biểu việc giải quyết vụ án của Kiểm sát viên: Hội đồng xét xử xét thấy việc đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ và được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147, Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 9, Điều 14, Điều 15, Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình;

Áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1/ Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận chị Lê Thị Đ và anh Quách Thanh Đlà vợ chồng;

2/ Về con chung: Tiếp tục giao cháu Quách Hoàng Nhất, sinh ngày 08/04/2007 cho chị Lê Thị Đ nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Anh Đ không phải cấp dưỡng nuôi cháu Quách Hoàng Nhất, sinh ngày 08/04/2007 nhưng anh được quyền tới lui thăm nom, chăm sóc con chung không ai có quyền ngăn cản;

3/ Về tài sản chung: Chị Lê Thị Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không đặt ra xem xét giải quyết.

4/ Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Lê Thị Đ phải nộp số tiền là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng chị Đ đã dự nộp số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí theo biên lai thu số: 0006369 ngày 09/06/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu nay chuyển thu toàn bộ số tiền trên thành án phí.

Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ. Viện Kiểm sát nhân dân cùng cấp và cấp trên được quyền kháng nghị bản án này theo quy định pháp luật./.

Cỡ chữ