- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lưu Ngọc H cùng đb phạm tội sửa dụng tài liệu con dấu giả - phạm tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tà…"
- Tòa quyết gì? Về hình sự: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 341; điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58, Điều 65 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Lƣu Ngọc H, Trƣơng Thị H1.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 341 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUY TIÊN TỈNH HÀ NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 106/2021/HSST Ngày 29 -11 -2021 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUY TIÊN - HÀ NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Ngọc Thuận.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Đức Liên; bà Đỗ Thị Liên
- Thƣ ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tƣơi - Thƣ ký Tòa án nhân dân thị xã Duy Tiên
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Minh Hoa - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 11 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Duy Tiên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 100/2021/HSST ngày 10 tháng 11 năm 2021, Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 109/2021/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 11 năm 2021 đối với:
* Các bị cáo:
1/ Lưu Ngọc H sinh năm 1984; nơi cƣ trú: Tổ 6, thị trấn Đ, huyện Đ, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Giám đốc Công ty cổ phần H; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lƣu Văn M và bà Trịnh Thị H; vợ: Trần Thị Mai Q, con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2014, con nhỏ sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 13/9/2021, đến ngày 22/9/2021 đƣợc áp dụng biện pháp ngăn chặn: "Cấm đi khỏi nơi cƣ trú" cho đến nay, có mặt.
2/ Trương Thị H1 sinh năm 1998; nơi cƣ trú: Thôn T, xã Th, huyện Đ, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Nhân viên Công ty cổ phần H; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trƣơng Đăng H và bà Nguyễn Thị B; chồng, con: Chƣa có; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 15/9/2021, đến ngày 22/9/2021 đƣợc áp dụng biện pháp ngăn chặn: "Cấm đi khỏi nơi cƣ trú" cho đến nay, có mặt.
3/ Ngô Ngọc K sinh năm 1987; nơi cƣ trú: Thôn L, xã M, huyện Đ, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Nhân viên Công ty cổ phần H; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Quang K (đã mất) và bà Trịnh Thị A; vợ: Hoàng Thị H, con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2018, con nhỏ sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 13/9/2021, đến ngày 22/9/2021 đƣợc áp dụng biện pháp ngăn chặn: "Cấm đi khỏi nơi cƣ trú" cho đến nay, có mặt.
* Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Xuân S, sinh năm 1958; nơi cƣ trú: 108 M, phƣờng T, thành phố N, tỉnh Nam Định, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Lƣu Ngọc H là Giám đốc công ty cổ phần H có địa chỉ ở 180 đƣờng L, xã N, huyện Đ, thành phố Hà Nội; Trƣơng Thị H1 là nhân viên hành chính tổng hợp của công ty cổ phần Hattech Việt Nam và Ngô Ngọc K là cán bộ kỹ thuật của công ty cổ phần Hattech Việt Nam.
Do có nhu cầu đi xuống địa bàn thành phố P, tỉnh Hà Nam để khảo sát công trình vào ngày 13/9/2021 và chuẩn bị một số công việc liên quan đến hoạt động của công ty nhƣng do thời gian này thành phố Hà Nội đang thực hiện giãn cách xã hội để phòng, chống dịch Covid 19, chỉ những ngƣời có công việc thật sự thiết yếu, có giấy đi đƣờng do UBND phƣờng, xã nơi công ty có trụ sở hoặc nơi cƣ trú cấp thì mới đƣợc đi qua các chốt kiểm dịch Covid 19. Sáng ngày 11/9/2021, H cho Trƣơng Thị H1 lên Ủy ban nhân dân xã N, huyện Đ, thành phố Hà Nội xin cấp giấy đi đƣờng cho các thành viên của công ty và xin chứng thực bản sao căn cƣớc công dân của H1 để thực hiện một số hoạt động của công ty. Đến khoảng 9 giờ 00 phút ngày 11/9/2021, H1 đến Ủy ban nhân dân xã N, huyện Đ chứng thực 04 bản sao căn cƣớc công dân của H1 đồng thời xin cấp giấy đi đƣờng cho H và K nhƣng trƣờng hợp của H và K không thuộc diện đƣợc Ủy ban nhân dân xã cấp. H1 sử dụng điện thoại di động Iphone 6 Plus của mình nhắn tin qua ứng dụng zalo cho H, nội dung: "Không cấp anh ạ", H hỏi: "Em hỏi rồi à", H1 trả lời: "Vâng, em đang ở bộ phận một cửa, anh có chế từ chứng thực thì chế", H hiểu ý của H1 nên đáp tiếp: "Ừ, kiếm bản nào có dấu rõ ràng đƣợc thì chế vậy". Sau đó, H1 về công ty làm việc và nói chuyện cho K nghe về việc H1 lên Ủy ban nhân dân xã N xin giấy đi đƣờng cho H và K nhƣng không đƣợc.
Khoảng 13 giờ 56 phút cùng ngày, (theo sự chỉ đạo của H,) H1 gửi 01 bản sao căn cƣớc công dân của H1 đã đƣợc ủy ban nhân dân xã Nguyên Khê chứng thực và 02 bản "Giấy xác nhận đi lại do yêu cầu công việc" do H1 tự soạn thảo, ghi đầy đủ thông tin của H và K, sau đó scan, tạo thành file rồi nhắn tin qua ứng dụng zalo cho H. Nhận đƣợc file do H1 gửi, H sử dụng chiếc laptop nhãn hiệu Acer của mình tại công ty tải các file về và sử dụng phần mềm chỉnh sửa "paint" trên máy tính, cắt ghép con dấu, chữ ký của Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã N
- Nguyễn Văn Q từ bản chứng thực bản sao căn cƣớc công dân của H1 vào mục: "XÁC NHẬN CỦA ĐỊA PHƢƠNG" của 02 tờ: "GIẤY XÁC NHẬN ĐI LẠI DO YÊU CẦU CÔNG VIỆC" do H1 đã gửi cho H. Sau khi cắt, ghép con dấu Quốc huy của Ủy ban nhân dân xã Nguyên Khê và chữ ký của Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã N - Nguyễn Văn Q, H nhắn tin qua ứng dụng zalo gửi lại cho H1 hình ảnh 02 tờ "GIẤY XÁC NHẬN ĐI LẠI DO YÊU CẦU CÔNG VIỆC" cho H1 biết đồng thời in ra 01 bản nhƣng chƣa đƣợc nét nên H chỉnh sửa thêm rồi in ra thành 02 bản để H và K sử dụng đi qua chốt kiểm dịch Covid 19 vào ngày 13/9/2021 để về địa bàn thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam. H đƣa lại cho H1 đóng dấu xác nhận của công ty cổ phần Hattech Việt Nam.
Khoảng 9 giờ 00 phút ngày 13/9/2021, H điều khiển xe ô tô BKS 18A - 016.xx, trên xe có K cùng đi đến cơ sở thực nghiệm Đại học xây dựng ở địa bàn thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam để làm việc. Trên đƣờng đi, H đƣa cho K 01 tờ "GIẤY XÁC NHẬN ĐI LẠI DO YÊU CẦU CÔNG VIỆC" đề ngày 06/9/2021 mang tên Ngô Ngọc K và bảo K ký vào phần ngƣời khai. K đọc nội dung biết rõ là H sử dụng phần mềm đã cắt ghép và in màu Quốc huy, chữ ký của lãnh đạo Ủy ban nhân dân xã Nguyên Khê, K hỏi H:"Có ổn không anh", H trả lời "Trƣớc anh chế cháo các loại hồ sơ toàn dùng paint và những cái vô thƣởng, vô phạt anh mới làm" để trấn an tinh thần K. K đồng ý và ký đầy đủ họ tên của mình vào mục ngƣời khai rồi đƣa lại cho H.
Khoảng 11h ngày 13/9/2021, H điều khiển xe ô tô BKS 18A - 016.xx đi qua chốt kiểm dịch covid tại Trạm thu phí Nam Cầu Giẽ thuộc tổ dân phố Ng, phƣờng D, thị xã D để vào địa phận tỉnh Hà Nam thì bị lực lƣợng chức năng yêu cầu dừng xe, kiểm tra giấy tờ. H xuất trình các giấy tờ gồm: Căn cƣớc công dân, giấy xét nghiệm covid 19, giấy xác nhận đi lại do yêu cầu công việc của H và K. Lực lƣợng chức năng kiểm tra, nghi ngờ 02 tờ "GIẤY XÁC NHẬN ĐI LẠI DO YÊU CẦU CÔNG VIỆC" mang tên Ngô Ngọc K đề ngày 06/9/2021 và "GIẤY XÁC NHẬN ĐI LẠI DO YÊU CẦU CÔNG VIỆC" mang tên Lƣu Ngọc H đề ngày 13/9/2021 có dấu hiệu giả mạo chữ ký và con dấu của cơ quan, tổ chức nên lực lƣợng chức năng tại chốt kiểm dịch covid Trạm thu phí N thuộc tổ dân phố Ng, phƣờng D, thị xã D đã lập Biên bản vụ việc đối với Lƣu Ngọc H và Ngô Ngọc K, niêm phong tài liệu, tạm giữ đồ vật theo quy định của pháp luật đồng thời chuyển toàn bộ hồ sơ cùng 02 đối tƣợng cho Cơ quan CSĐT Công an thị xã Duy Tiên giải quyết theo thẩm quyền.
Vật chứng thu giữ gồm:
- 01 tờ giấy A4 có nội dung: "GIẤY XÁC NHẬN ĐI LẠI DO YÊU CẦU CÔNG VIỆC" đề ngày 13/9/2021 đƣợc niêm phong trong phong bì ký hiệu A1;
- 01 tờ giấy A4 có nội dung: "GIẤY XÁC NHẬN ĐI LẠI DO YÊU CẦU CÔNG VIỆC" đề ngày 06/9/2021, đƣợc niêm phong trong phong bì ký hiệu A2;
- 01 xe ô tô nhãn hiệu Toyota Altis BKS 18A - 016.xx, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô BKS 18A - 016.xx, 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS cấp cho xe ô tô BKS 18A - 016.xx, 01 giấy chứng nhận kiểm định cấp cho xe ô tô BKS 18A - 016.xx;
- 01 chứng minh nhân dân mang tên Lƣu Ngọc H;
- 01 chứng minh nhân dân mang tên Ngô Ngọc K;
- 01 điện thoại Samsung Galaxy Note 10 của Lƣu Ngọc H;
- 01 điện thoại di động Oppo A53 của Ngô Ngọc K.
Khám xét khẩn cấp nơi làm việc của Lƣu Ngọc H ở 180 đƣờng L, xã N, huyện Đ, thành phố Hà Nội. Kết quả:
+ Thu tại bàn làm việc của Lƣu Ngọc H: 01 "GIẤY XÁC NHẬN ĐI LẠI DO YÊU CẦU CÔNG VIỆC" mang tên Lƣu Ngọc H đề ngày 13/9/2021 (ký hiệu A); 01 máy tính xách tay nhãn hiệu Acer, 01 dây sạc pin của máy tính;
+ Thu trên ghế, cạnh bàn làm việc của Lƣu Ngọc H: 01 máy in nhãn hiệu Canon màu đen;
+ Thu trong tủ hồ sơ: 01 giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp công ty cổ phần Hattech Việt Nam; 01 Hợp đồng kinh tế ngày 25/7/2021 gồm 09 trang giữa công ty TNHH H và công ty cổ phần Hattech Việt Nam
+ Thu tại bàn làm việc của Trƣơng Thị H1: 04 bản sao căn cƣớc công dân mang tên Trƣơng Thị H1.
Ngày 13/9/2021, cơ quan CSĐT Công an thị xã Duy Tiên đã tiến hành kiểm tra chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy Note của Lƣu Ngọc H, thể hiện nội dung tài khoản zalo "Hienln" có nhắn tin tới tài khoản zalo "Hattech H1" với nội dung: "Không cấp anh ạ"; "Em hỏi rồi à"; "Vâng, em đang ở bộ phận một cửa, anh có chế từ chứng thực thì chế"; "Ừ, kiếm bản nào có dấu rõ ràng đƣợc thì chế vậy".
Ngày 15/9/2021, cơ quan CSĐT Công an thị xã Duy Tiên đã tiến hành kiểm tra điện thoại di động Iphone 6 Plus của Trƣơng Thị H1, thể hiện nội dung tài khoản zalo "Huyen Truong" có nhắn tin tới tài khoản zalo "A H sếp Hattech". Kết quả: "Không cấp anh ạ"; "Em hỏi rồi à"; "Vâng, em đang ở bộ phận một cửa, anh có chế từ chứng thực thì chế"; "Ừ, kiếm bản nào có dấu rõ ràng đƣợc thì chế vậy".
Ngày 13/9/2021, cơ quan CSĐT Công an thị xã Duy Tiên kiểm tra điện thoại di động Oppo A53 của Ngô Ngọc K kết quả không có thông tin gì liên quan đến hành vi phạm tội; kiểm tra chiếc laptop nhãn hiệu Acer kết quả: Tại thƣ mục "Desktop" có 01 file tên "Giấy đi đƣờng Phủ Lý"; 01 file "Giấy đi đƣờng K" và 01 file "Untitled" (các dữ liệu có liên quan đến hành vi phạm tội).
Kết luận giám định số 40/PC09 - TL ngày 13/9/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hà Nam kết luận: "Chữ ký tên Phó Chủ tịch - Nguyễn Văn Quang và Hình dấu tròn nội dung: "U.B.N.D XÃ N H.Đ T.P HÀ NỘI" dƣới mục "XÁC NHẬN CỦA ĐỊA PHƢƠNG" trên tài liệu cần giám định ký hiệu A1, A2 đƣợc tạo ra bằng phƣơng pháp in màu; chữ ký đứng tên Giám đốc - Lƣu Ngọc H và Hình dấu tròn nội dung "CÔNG TY CỔ PHẦN HATTECH VIỆT NAM" dƣới mục "XÁC NHẬN CỦA CÔNG TY" trên tài liệu cần giám định ký hiệu A1, A2 đƣợc tạo ra bằng phƣơng pháp ký và đóng dấu trực tiếp".
Kết luận giám định số 50/PC09 - TL ngày 09/11/2021 của Phòng Kỹ thuật Hình sự - Công an tỉnh Hà Nam kết luận: "Chữ ký tên Phó Chủ tịch - Nguyễn Văn Q và Hình dấu tròn nội dung: "U.B.N.D XÃ N H.Đ T.P HÀ NỘI" dƣới mục "XÁC NHẬN CỦA ĐỊA PHƢƠNG" trên tài liệu cần giám định ký hiệu A đƣợc tạo ra bằng phƣơng pháp in màu; chữ ký đứng tên Giám đốc - Lƣu Ngọc H và Hình dấu tròn nội dung "CÔNG TY CỔ PHẦN HATTECH VIỆT NAM" dƣới mục "XÁC NHẬN CỦA CÔNG TY" trên tài liệu cần giám định ký hiệu A đƣợc tạo ra bằng phƣơng pháp ký và đóng dấu trực tiếp" .
Cáo trạng số 99/CT-VKS ngày 10/11/2021, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên truy tố bị cáo Lƣu Ngọc H về tội: "Làm giả con dấu, tài liệu; sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức" theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 341 Bộ luật hình sự; truy tố Trƣơng Thị H1 về tội: "Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức" theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 341 Bộ luật hình sự; truy tố Ngô Ngọc K về tội: "Sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức" theo quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị HĐXX áp dụng điểm c khoản 2 Điều 341; điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58, Điều 65 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Lƣu Ngọc H, Trƣơng Thị H1. Áp dụng khoản 1 Điều 341; điểm i, s khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58, Điều 65 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Ngô Ngọc K. Xử phạt bị cáo H từ 30 đến 36 tháng tù nhƣng cho hƣởng án treo, xử phạt bị cáo H1 từ 24 đến 30 tháng tù nhƣng cho hƣởng án treo, xử phạt bị cáo K từ 9 đến 12 tháng tù nhƣng cho hƣởng án treo. Miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo. Về vật chứng: Tịch thu sung ngân sách nhà nƣớc: 01 máy tính xách tay nhãn hiệu Acer, 01 dây sạc pin của máy tính; 01 máy in nhãn hiệu Canon màu đen, 01 điện thoại di động Samsung Galaxy Note 10 và 01 điện thoại di động Iphone 6 Plus. Lữu trữ hồ sơ vụ án: 03 tờ giấy A4 "GIẤY XÁC NHẬN ĐI LẠI DO YÊU CẦU CÔNG VIỆC" (02 tờ giấy đề ngày 13/9/2021, 01 tờ giấy đề ngày 06/9/2021) và 04 bản sao chứng thực căn cƣớc công dân mang tên Trƣơng Thị H1 và tuyên án phí đối với các bị cáo.
Các bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt, ngoài ra không có tranh luận gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định nhƣ sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và ngƣời tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, HĐXX xác định các hành vi, quyết định tố tụng của những ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
Về tội danh, tính chất mức độ tội phạm: Xét lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã đƣợc thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, HĐXX có đủ cơ sở kết luận:
Do cần có giấy xác nhận của Ủy ban nhân dân xã N, huyện Đ, thành phố Hà Nội xác nhận cho Lƣu Ngọc H và Ngô Ngọc K đƣợc đi lại qua chốt kiểm dịch Covid 19 để đi từ văn phòng Công ty cổ phần H có địa chỉ ở 180 đƣờng, xã N, huyện Đ, thành phố Hà Nội đến địa bàn thành phố P, tỉnh Hà Nam khảo sát công trình thi công nên sáng ngày 11/9/2021, tại văn phòng công ty, H cho nhân viên là Trƣơng Thị H1 đến Ủy ban nhân dân xã N xin xác nhận nhƣng không đƣợc. H đã bàn bạc với H1 gửi bản sao chứng thực căn cƣớc công dân của H1 có con dấu và chữ ký của Phó Chủ tịch của Ủy ban nhân dân xã N là Nguyễn Văn Q để H cắt ghép con dấu, chữ ký vào mục xác nhận của Ủy ban nhân dân xã N vào 02 bản: "GIẤY XÁC NHẬN ĐI LẠI DO YÊU CẦU CÔNG VIỆC" mang tên Lƣu Ngọc H và Ngô Ngọc K đề ngày 13/9/2021 và ngày 06/9/2021. Sau đó H dùng phƣơng pháp in màu tạo ra con dấu và chữ ký của Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã N- Nguyễn Văn Q và in ra 02 bản giấy tờ giả: "GIẤY XÁC NHẬN ĐI LẠI DO YÊU CẦU CÔNG VIỆC".
Khoảng 11h00’ ngày 13/9/2021, H điều khiển xe ô tô BKS 18A - 016.xx, trên xe có K cùng đi đến cơ sở thực nghiệm Đại học xây dựng ở địa bàn thành phố P, tỉnh Hà Nam, H và K dùng 02 tờ "GIẤY XÁC NHẬN ĐI LẠI DO YÊU CẦU CÔNG VIỆC" đi qua chốt kiểm dịch covid 19 ở địa phận Trạm thu phí N thuộc tổ dân phố N, phƣờng D, thị xã D, tỉnh Hà Nam thì bị lực lƣợng chức năng kiểm tra, phát hiện, lập Biên bản vụ việc, niêm phong vật chứng, chuyển Cơ quan CSĐT Công an thị xã Duy Tiên giải quyết theo quy định của pháp luật.
Quá trình thao tác làm 02 tờ giấy giả nêu trên, H đã in thử ra 01 tờ xác nhận của H ngày 13/9/2021 nhƣng do bị xấu nên H bỏ lại văn phòng công ty không sử dụng mà in lại tờ khác.
Hành vi nêu trên của các bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp hoạt động bình thƣờng của cơ quan, tổ chức trong lĩnh vực quản lý hành chính Nhà nƣớc về con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác, ảnh hƣởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phƣơng; hành vi của Lƣu Ngọc H đủ yếu tố cấu thành tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” tội phạm hình phạt quy định tại điểm c khoản 2 Điều 341 Bộ luật hình sự; hành vi của Trƣơng Thị H1 đủ yếu tố cấu thành tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” tội phạm hình phạt quy định tại điểm c khoản 2 Điều 341 Bộ luật hình sự; hành vi của Ngô Ngọc K đủ yếu tố cấu thành tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” tội phạm hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật hình sự; Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố các bị cáo là đúng ngƣời, đúng tội, đúng pháp luật.
Về vai trò: Vụ án này thuộc trƣờng hợp đồng phạm giản đơn; bị cáo Lƣu Ngọc H là ngƣời chủ động bàn bạc với Trƣơng Thị H1 thực hiện hành vi phạm tội làm 02 giấy tờ giả và sử dụng giấy tờ giả do mình làm ra để đi qua các chốt kiểm dịch covid 19 nên giữ vai trò đầu vụ; Trƣơng Thị H1 dùng tài liệu căn cƣớc công dân đã đƣợc Ủy ban nhân dân xã N chứng thực để giúp H làm ra 02 tài liệu giả nên giữ vai trò thứ hai. Ngô Ngọc K mặc dù biết việc làm giấy tờ của H là giả nhƣng vẫn sử dụng đi qua các chốt kiểm dịch Covid 19 nên đồng phạm về tội "Sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức".
Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Các bị cáo là ngƣời có nhân thân tốt; không phải chịu tình tiết tăng nặng; về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải; các bị cáo có thân nhân có công với cách mạng, bị cáo H có thành tích trong học tập, bị cáo H1 ra đầu thú nên các bị cáo đƣợc hƣởng tình tiết giảm nhẹ tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; riêng bị cáo K phạm tội lần đầu và thuộc trƣờng hợp ít nghiêm trọng nên đƣợc hƣởng thêm tình tiết giảm nhẹ tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt: Từ nhận định trên xét thấy mặc dù hành vi của các bị cáo đƣợc thực hiện trong thời gian giãn cách xã hội phòng chống dịch bệnh tuy nhiên các bị cáo chỉ nhằm mục đích đi qua chốt kiểm dịch, hậu quả không dẫn đến làm lây lan dịch bệnh; bên cạnh đó tại thời điểm xét xử Chính phủ đã có Nghị quyết hƣớng dẫn phòng chống dịch bệnh thích ứng trong thời kỳ mới vì thế sau khi cân nhắc mọi mặt xét thấy các bị cáo có nhân thân tốt, đƣợc hƣởng nhiều tình tiết giảm nhẹ nên không cần phải cách ly khỏi xã hội mà cho các bị cáo cải tạo tại địa phƣơng dƣới sự giám sát của gia đình, xã hội tạo điều kiện cho các bị cáo cải sửa mình, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật. Trong vụ án này các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội không mang tính vụ lợi, các bị cáo có hoàn cảnh khó khăn đƣợc địa phƣơng xác nhận nên miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.
Về vật chứng của vụ án:
Đối với xe ô tô Toyota Altis BKS 18A - 016.xx là tài sản của ông Trần Xuân S, ông S cho Lƣu Ngọc H mƣợn để đi lại, không biết việc H dùng chiếc xe này đi lại có liên quan đến hành vi vi phạm pháp luật vì thế cơ quan điều tra đã trả lại ông Sánh xe ô tô và các giấy tờ xe là đúng quy định của pháp luật.
Đối với 01 chứng minh nhân dân mang tên Lƣu Ngọc H, 01 giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp công ty cổ phần Hattech Việt Nam, 01 Hợp đồng kinh tế ngày 25/7/2021 gồm 09 trang giữa công ty TNHH Hiệp Thành và công ty cổ phần Hattech Việt Nam; 01 chứng minh nhân dân mang tên Ngô Ngọc K, 01 điện thoại di động Oppo A53 của Ngô Ngọc K do không liên quan đến vụ án nên CSĐT Công an thị xã Duy Tiên đã trả lại cho Lƣu Ngọc H, Ngô Ngọc K là đúng.
Đối với 01 máy tính xách tay nhãn hiệu Acer, 01 dây sạc pin của máy tính; 01 máy in nhãn hiệu Canon màu đen, 01 điện thoại di động Samsung Galaxy Note 10 và 01 điện thoại di động Iphone 6 Plus là công cụ phƣơng tiện dùng vào việc phạm tội cần tịch thu sung quỹ nhà nƣớc.
Đối với 03 tờ giấy A4 "GIẤY XÁC NHẬN ĐI LẠI DO YÊU CẦU CÔNG VIỆC" (02 tờ giấy đề ngày 13/9/2021, 01 tờ giấy đề ngày 06/9/2021) và 04 bản sao chứng thực căn cƣớc công dân mang tên Trƣơng Thị H1 đƣợc lƣu giữ trong hồ sơ vụ án.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu theo quy định.
[ 8] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thực hiện quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
1. Về hình sự: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 341; điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58, Điều 65 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Lƣu Ngọc H, Trƣơng Thị H1.
Áp dụng khoản 1 Điều 341; điểm i, s khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58, Điều 65 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Ngô Ngọc K
Tuyên bố: bị cáo Lƣu Ngọc H phạm tội: "Làm giả con dấu, tài liệu; sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức"; bị cáo Trƣơng Thị H1 phạm tội: "Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức"; bị cáo Ngô Ngọc K phạm tội: "Sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức".
Xử phạt:
- Lƣu Ngọc H 30 (Ba mƣơi) tháng tù nhƣng cho hƣởng án treo, thời gian thử thách 60 (Sáu mƣơi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (29/11/2021).
- Trƣơng Thị H1 24 (Hai mƣơi bốn) tháng tù nhƣng cho hƣởng án treo, thời gian thử thách 48 (Bốn mƣơi tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (29/11/2021).
- Ngô Ngọc K 09 (Chín) tháng tù nhƣng cho hƣởng án treo, thời gian thử thách 18 (Mƣời tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (29/11/2021).
Giao bị cáo Lƣu Ngọc H cho Ủy ban nhân dân thị trấn Đ, huyện Đ, thành phố Hà Nội; giao bị cáo Trƣơng Thị H1 cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện Đ, thành phố Hà Nội; giao bị cáo Ngô Ngọc K cho Ủy ban nhân dân xã M, huyện Đ, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trƣờng hợp ngƣời đƣợc hƣởng án treo thay đổi nơi cƣ trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu ngƣời đƣợc hƣởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc ngƣời đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hƣởng án treo. Trƣờng hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc ngƣời đó phải chấp hành hình phạt của bản án trƣớc tổng hợp với hình phạt của bản án mới.
2. Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu sung ngân sách nhà nƣớc: 01 máy tính xách tay nhãn hiệu Acer, 01 dây sạc pin của máy tính; 01 máy in nhãn hiệu Canon màu đen, 01 điện thoại di động Samsung Galaxy Note 10 và 01 điện thoại di động Iphone 6 Plus.
Lữu trữ hồ sơ vụ án: 03 tờ giấy A4 "GIẤY XÁC NHẬN ĐI LẠI DO YÊU CẦU CÔNG VIỆC" (02 tờ giấy đề ngày 13/9/2021, 01 tờ giấy đề ngày 06/9/2021) và 04 bản sao chứng thực căn cƣớc công dân mang tên Trƣơng Thị H1.
(Đặc điểm vật chứng nhƣ biên bản giao nhận giữa Công an thị xã Duy Tiên và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Duy Tiên ngày 11 tháng 11 năm 2021).
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc Hội các bị cáo Lƣu Ngọc H, Trƣơng Thị H1, Ngô Ngọc K mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng).
Báo cho các bị cáo có mặt đƣợc quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt đƣợc quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc từ ngày bản án đƣợc niêm yết.
Trƣờng hợp bản án, quyết định đƣợc thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì ngƣời đƣợc thi hành án dân sự, ngƣời phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cƣỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án đƣợc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hà Nam; - VKSND tỉnh Hà Nam; - Sở Tƣ pháp tỉnh Hà Nam; - Công an TX Duy Tiên; - VKSND thị xã Duy Tiên; - THADS thị xã Duy Tiên; - Bị cáo; đƣơng sự; - Lƣu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Ngọc Thuận |