- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án Đ - Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phan Châu Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI TỈNH QUẢNG NGÃI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 106/2021/HS-ST Ngày 02/12/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI, TỈNH QUẢNG NGÃI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Hồng Ánh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Phùng Xuân Thu;
2. Ông Đào Kim Kinh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 12 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 133/2021/HSST ngày 12/10/2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 136/2021/QĐXXST-HS ngày 11/11/2021 đối với bị cáo:
Phan Châu Đ, sinh ngày 24/12/1996; nơi cư trú: Tổ dân phố X, thị trấn C, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi; nghề nghiệp: Không; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 12/12; con ông Phan Châu T, bà Võ Thị L; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
- Bị hại: Anh Hồ Quang T, sinh năm 2000; nơi cư trú: Thôn L, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi; vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Lương Tuấn C, sinh năm 1986; địa chỉ: Số Y, đường N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đêm ngày 18/6/2021, Phan Châu Đ ngủ cùng với 02 người bạn là anh Hồ Quang T và anh Phạm A tại phòng trọ thuộc Tổ dân phố T, phường T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, Đ thức dậy thấy xe mô tô hiệu Yamaha Exciter 150CC, màu đen – cam, biển kiểm soát 76C1 - 715.74 của anh T có gắn chìa khóa, Đ mở cốp xe thì thấy bên trong có 01 chứng minh nhân dân mang tên Hồ Quang T và 01 giấy đăng ký xe mô tô biển kiểm soát 76C1 -715.74, tên chủ xe Hồ Quang T. Do cần tiền tiêu xài, lợi dụng lúc anh T và anh A đang ngủ say, chìa khóa của phòng trọ và chìa khóa xe mô tô còn gắn sẵn trên ổ khóa, Đ đã lấy trộm xe mô tô hiệu Exciter 150CC, màu đen - cam, biển kiểm soát 76C1 - 715.74 của anh T dắt ra ngoài, điều khiển xe mô tô bỏ đi. Sau đó Đ mang xe mô tô nêu trên đến cầm cố cho anh Lương Tuấn C (là người quản lý tiệm cầm đồ T) với số tiền 30.000.000 đồng. Khi cầm cố xe, Đ có giao 01 chứng minh nhân dân mang tên Hồ Quang T và 01 giấy đăng ký xe mô tô biển kiểm soát 76C1 - 715.74 tên chủ xe Hồ Quang T cho anh C, đồng thời ký vào hợp đồng cầm đồ với tên Hồ Quang T. Ngày 19/6/2021, Đ sử dụng điện thoại di động hiệu Iphone, màu trắng, gắn 01 sim điện thoại có số thuê bao 0345644611 để nhắn tin với anh T qua số thuê bao 0964968274 thừa nhận hành vi lấy trộm xe mô tô hiệu Yamaha Exciter 150CC, biển kiểm soát 76C1-715.74 của anh T vào đêm ngày 18/6/2021.
Tại Kết luận định giá tài sản số 32/KL-HĐĐGTS ngày 06/7/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Quảng Ngãi kết luận: 01 xe mô tô hiệu Yamaha Exciter 150CC, màu đen - cam, biển kiểm soát 76C1-715.74, số khung: RLCUG1010LY292617, số máy: G3D4E1063657, tại thời điểm ngày 18/6/2021 trị giá 35.000.000 đồng.
* Tài liệu, đồ vật thu giữ:
- 01 xe mô tô hiệu Yamaha Exciter 150CC, màu đen - cam, biển kiểm soát 76C1-715.74, đã qua sử dụng; 01 chứng minh nhân dân mang tên Hồ Quang T; 01 giấy đăng ký xe mô tô, biển kiểm soát 76C1 - 715.74, tên chủ xe Hồ Quang T.
- 01 hợp đồng cầm đồ xe mô tô hiệu Yamaha Exciter 150CC, màu đen - cam, biển kiểm soát 76C1-715.74 giữa bị cáo Phan Châu Đ và anh Lương Tuấn C.
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu trắng.
Bản cáo trạng số 104/CT-VKS, ngày 11/10/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi truy tố bị cáo Phan Châu Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi giữ nguyên quyết định truy tố; đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Khoản 1 Điều 173, điểm b, i, s Khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Phan Châu Đ từ 09 đến 12 tháng tù; về vật chứng: đề nghị lưu hồ sơ vụ án 01 hợp đồng cầm đồ xe mô tô hiệu Yamaha Exciter 150CC, màu đen - cam, biển kiểm soát 76C1-715.74 giữa bị can Phan Châu Đ và anh Lương Tuấn C là chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Quảng Ngãi, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án là đúng quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo Phan Châu Đ khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình: Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đã lén lút lấy trộm xe mô tô hiệu Exciter 150CC, biển kiểm soát 76C1 - 715.74 của anh Hồ Quang T với tổng giá trị tài sản là 35.000.000 đồng. Lời khai nhận của bị cáo đúng như Bản cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án nên hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, bị cáo đã khắc phục hậu quả cho anh Lương Tuấn C, bị cáo đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an ở địa phương.
Trên cơ sở đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần xử phạt bị cáo mức án với thời hạn nhất định, cách ly bị cáo khỏi xã hội để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích, có ý thức tuân thủ pháp luật, ngăn ngừa bị cáo phạm tội mới, đồng thời giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, góp phần đấu tranh phòng chống tội phạm.
Về dân sự: Anh Lương Tuấn C, anh Hồ Văn T đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu về phần dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với anh Lương Tuấn C khi nhận cầm cố xe mô tô hiệu Yamaha Exciter 150CC, biển kiểm soát 76C1 - 715.74 không biết xe mô tô trên là do bị cáo phạm tội mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Quảng Ngãi không xử lý anh C về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
Về xử lý vật chứng:
- 01 xe mô tô hiệu Yamaha Exciter 150CC, màu đen - cam, biển kiểm soát 76C1 - 715.74, đã qua sử dụng; 01 chứng minh nhân dân mang tên Hồ Quang T; 01 giấy đăng ký xe mô tô, biển kiểm soát 76C1 - 715.74, tên chủ xe Hồ Quang T, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Quảng Ngãi đã trả lại cho anh Hồ Quang T là đúng quy định pháp luật.
- 01 hợp đồng cầm đồ xe mô tô hiệu Yamaha Exciter 150CC, màu đen - cam, biển kiểm soát 76C1-715.74 giữa bị can Phan Châu Đ và anh Lương Tuấn C là chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo được lưu cùng hồ sơ vụ án.
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu trắng của Phan Châu Đ, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Quảng Ngãi đã trả lại cho Đ là đúng quy định pháp luật.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi về tội danh, mức hình phạt đối với bị cáo có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Về án phí: Bị cáo Đ phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, và Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 173, điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51, các Điều 38, 47 của Bộ luật Hình sự; các Điều 106, 136, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, tuyên xử:
1. Tuyên bố bị cáo Phan Châu Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2. Xử phạt bị cáo Phan Châu Đ 09 (chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
3. Lưu hồ sơ vụ án 01 (một) hợp đồng cầm đồ xe mô tô hiệu Yamaha Exciter 150CC, màu đen - cam, biển kiểm soát 76C1 - 715.74 giữa Phan Châu Đ và anh Lương Tuấn C.
4. Buộc bị cáo Phan Châu Đ phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Quảng Ngãi; - VKSND TP Quảng Ngãi; - CQCSĐT Công an TP Quảng Ngãi; - Bộ phận HSNV Công an thành phố Quảng Ngãi; - CCTHADS TP Quảng Ngãi; - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ngãi; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ vụ án | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Thị Hồng Ánh |