vanban.org

Bản án 106/2021/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh Tuyên án 23/08/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Truy tố ra trước Toà án nhân dân thành phố Cẩm Phả để xét xử bị can Lục Ninh Bình về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Kèm theo cáo trạng gồm có: Hồ sơ vụ án gồm có: 01 tập, bằng 95 tờ, đánh số thứ tự từ 01 đến 95; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Thị Th phạm tội Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi,…"
  • Tòa quyết gì? Truy tố ra trước Toà án nhân dân thành phố Cẩm Phả để xét xử bị can Lục Ninh Bình về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CẨM PHẢ
TỈNH QUẢNG NINH
Bản án số: 106/2021/HS - ST
Ngày: 23/08/2021

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Minh Ngà

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Mạnh Hùng, bà Phạm Thị Minh Huyền

- Th ký phiên tòa: Bà Bùi Kim Uyên - Th ký Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả tham gia phiên tòa: Ông Lã H Long - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 23 tháng 08 năm 2021 tại Hội trường xét xử số 2, Trụ sở tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 97/2021/TLST- HS ngày 06/07/2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 106/2021/QĐXXST-HS ngày 09/8/2021 đối với bị cáo:

Họ và tên: Vũ Thị Th; Tên gọi khác: không; Giới tính:Nữ;

Sinh ngày 24/02/1984, tại: huyện S, tỉnh B;

Nơi ĐKTT: Thôn M, xã V, huyện S, tỉnh B;

Nơi ở: Thôn A 1, xã L, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không;

Trình độ học vấn: Lớp 5/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do;

Họ tên bố: Vũ Văn Ch, họ tên mẹ: Nông Thị D

Họ tên chồng: Lê Quang Đ - Sinh năm 1971;

Con: có 04 con, lớn sinh năm 2007, nhỏ sinh năm 2020;

Tiền án, tiền sự: không;

Bị cáo đầu thú ngày 11/01/2021, bị cáo bị áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt tại phiên toà

* Bị hại: Anh Nguyễn Duy H - sinh năm: 1976;

Nơi ĐKNKTT: Tổ 2, khu V, phường M, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh. Chỗ ở hiện

nay: Xóm Tr, thôn Kh, xã D, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh. Có mặt tại phiên tòa.

* Người làm chứng:

- Chị Trịnh Thị Ch – sinh năm: 1973; Nơi ĐKNKTT: Thôn Khe Sím, xã Dương Huy, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh.

- Ông Vũ Nhân Gi – sinh năm: 1955; Nơi ĐKNKTT: Tổ 1, khu 10B, phường Quang Hanh, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh.

- Anh Vũ Nhân T – sinh năm: 1989;Nơi ĐKNKTT: Tổ 1, khu 10B, phường Quang Hanh, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh.

- Bà Đinh Thị S - sinh năm: 1944;Nơi ĐKNKTT: Tổ 1, khu 10B, phường Quang Hanh, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh.

Đều vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Vũ Thị Th và chị Trịnh Thị Ch quen biết nhau do cùng quê. Khoảng tháng 10/2020, Th có vay tiền của chị Ch để mua trả góp 02 chiếc điện thoại, tổng trị giá 15.000.000 đồng; hai bên thỏa thuận, hàng tháng Th sẽ đưa cho chị Ch 2.000.000 đồng để trả góp cho cửa hàng điện thoại. Tuy nhiên, từ tháng 12/2020, Th không đưa tiền cho chị Ch, mặc dù chị Ch đã đòi nhiều lần. Ngày 10/01/2021, chị Ch đến nhà trọ của Th tại tổ 1, khu 10B, phường Quang Hanh, thành phố Cẩm Phả đòi tiền, do chưa có tiền nên Th khất nợ, hẹn đến chiều ngày 11/01/2021 sẽ trả. Khoảng 18 giờ ngày 11/01/2021, chị Ch nhờ anh Nguyễn Duy H là người quen từng thuê trọ tại nhà chị, chở đến nhà trọ của Th để lấy tiền, nhưng Th nói là có việc bận cần đi giao hàng sẽ trả sau, nên giữa hai bên xảy ra mâu thuẫn cãi nhau. Lúc này, anh H bảo Th trả tiền cho chị Ch và dùng tay đặt lên chiếc xe chở lồng gà của Th để ngăn Th bỏ đi, nên anh H và Th xảy ra mâu thuẫn cãi chửi nhau. Th đi vào trong bếp, lấy 01 con dao bằng kim loại, dạng dao chặt, dài 38,3cm, có một lưỡi sắc, đầu dao vuông, bản rộng 8,7cm, để lên trên chiếc lồng gà. Còn anh H và chị Ch đi ra ngõ vào nhà Th. Sau đó Th điều khiển xe mô tô chở lồng gà đi ra đầu đường, thì bị anh H, chị Ch tiếp tục ngăn lại và yêu cầu Th trả tiền. Hai bên xảy ra cãi cọ, xô đẩy nhau ở khu vực vỉa hè, Th lấy dao để ở trên lồng gà, cầm trên tay pH, chạy đến chém nhiều nhát theo hướng từ trên xuống dưới về phía anh H. Anh H giơ hai tay lên đỡ thì bị trúng vào phần cẳng tay phải và cẳng tay trái. Anh H bỏ chạy, Th tiếp tục cầm dao đuổi theo khoảng 30m, thì được người dân xung quanh can ngăn, đưa anh H đi cấp cứu. Sau đó Th đến Công an đầu thú.

Cơ quan điều tra đã thu giữ 01 con dao bằng kim loại, dạng dao chặt, dài 38,3cm, đầu dao vuông, có một lưỡi sắc dài 27cm, bản rộng 8,7cm, do bà Đinh Thị Sự là người làm chứng, có mặt tại hiện trường, nhặt được và giao nộp; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung của Vũ Thị Th; 01 thùng rác bằng nhựa màu đỏ, đã bị vỡ.

Theo phiếu khám bệnh vào viện của Bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Ninh, ngày 11/01/2021, ghi nhận tình trạng thương tích lúc vào viện của Nguyễn Duy H: 01 vết Thơng đoạn 1/3 dưới cẳng tay trái dài 3cm; 01 vết thương đoạn 1/3 trên cẳng tay phải dài 6cm; Gãy hở 1/3 dưới xương trụ trái.

Tại Bản kết luận giám định số 91 ngày 28/01/2021 và Công văn số 06 ngày 26/02/2021, của Trung tâm pháp y – Sở y tế Quảng Ninh, kết luận: Vết thương 1/3 trên mặt sau cẳng tay phải: Tổn Thơng thần kinh giữa phải (nhánh chi phối cơ sấp vuông của thần kinh giữa) là 13%; Sẹo vết Thơng nằm chéo 1/3 trên mặt sau cẳng tay pH, kích Thớc (08x0,2)cm, sẹo dẫn lưu cẳng tay phải kích Thớc (0,3x0,3)cm là 03%. Vết Thơng 1/3 dưới mặt sau trong cẳng tay trái: Gãy xương trụ tay trái đã được phẫu thuật kết hợp xương bằng nẹp vít, xương đang can, không di lệch là 08%; Sẹo vết thương nằm ngang 1/3 dưới mặt sau trong cẳng tay trái kích Thớc (3,5x0,2)cm, sẹo vết mổ lên phía trên kích Thớc (3,5x0,2)cm, xuống phía dưới kích Thớc (03x0,2)cm; Sẹo dẫn lưu cẳng tay trái kích Thớc (0,3x0,3)cm là 04%. Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 25%. Hai vết thương nêu trên do vật sắc tác động trực tiếp gây nên. Con dao bằng kim loại, dạng dao chặt, dài 38,3cm, đầu dao vuông, có một lưỡi sắc dài 27cm, bản rộng 8,7cm, hoàn toàn có thể gây các Thơng tích trên cho anh Nguyễn Duy H.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Vũ Thị Th khai nhận hành vi phạm tội như trên và khai thêm: khi anh H và chị Ch chặn bị cáo ở đầu đường, giữa bị cáo và anh H có xảy ra xô xát. Anh H nhặt đá ném về phía bị cáo, sượt qua tay, gây bầm tím. Bị cáo đã dùng điện thoại di động chụp lại hòn đá anh H dùng để ném bị cáo và giao nộp Cơ quan điều tra. Bị cáo chém anh H một phần vì lý do tâm lý quá áp lực về kinh tế, bị cáo không có đủ 2.000.000đồng để trả chị Ch như đã hẹn, hoàn cảnh của bị cáo rất khó khăn, một mình bị cáo nuôi chồng bị tai biến không có khả năng lao động và 04 con còn nhỏ, công việc làm ăn bị ảnh hưởng của dịch bệnh Covid, nên bị cáo gần như bế tắc không có lối thoát, nhưng với Thơng tích bị cáo đã gây ra cho anh H, tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành thật xin lỗi anh H.

Bị hại là anh Nguyễn Duy H, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa có lời khai thể hiện nội dung: anh không quen biết bị cáo Th, chiều ngày 11/01/2021 anh có mặt tại nơi ở của bị cáo là do chị Ch nhờ anh chở đến, khi chị Ch yêu cầu bị cáo trả tiền bị cáo không trả tiền cho chị Ch và nói để bị cáo mang gà đi giao rồi về trả tiền, chị Ch không đồng ý, anh có để tay lên lồng gà mục đích ngăn bị cáo ở lại nói chuyện với chị Ch, bị cáo dựng xe đi vào nhà, anh điều khiển xe đi ra cổng lớn. Khoảng 10 phút sau, bị cáo đi xe ra, dừng xe trước cổng lớn rồi tiến về phía anh, vung dao chém anh, theo phản xạ anh giơ tay lên đỡ bị trúng vào hai cách tay, anh bỏ chạy về phía nội thị Cẩm Phả, bị cáo đuổi theo anh, nhưng được mọi người can ngăn, sau đó anh được đưa đến bệnh viện điều trị vết thương. Khi nói chuyện với bị cáo anh không giằng co, anh không đóng cổng lớn, không nhặt đá ném bị cáo như bị cáo khai tại phiên tòa. Về bồi thường dân sự, anh và bị cáo đã thống nhất được bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho anh tổng số tiền là 45.000.000đồng, bị cáo đã bồi Thờng cho anh 25.000.000đồng, bị cáo có trách nhiệm bồi thường tiếp cho anh số tiền 20.000.000đồng, về phần hình phạt đối với bị cáo, anh đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hoàn cảnh của bị cáo, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Người làm chứng chị Trịnh Thị Ch vắng mặt phiên tòa, trong quá trình điều tra có lời khai thể hiện nội dung về mối quan hệ giữa chị và bị cáo, lý do ngày 11/01/2021 chị đến đòi tiền bị cáo đúng như bị cáo khai tại phiên tòa. Khi anh H đặt tay lên lồng gà ngăn không cho bị cáo chở gà đi thì hai bên xảy ra cãi nhau, khi bị cáo chở lồng gà ra đến cổng lớn chị tiếp tục yêu cầu bị cáo trả tiền, khi đó anh H đang đi bộ trên vỉa hè có nói bị cáo trả tiền cho chị, thấy vậy bị cáo quay lại xe lấy con dao lao về phía anh H, vung dao chém anh H, anh H bỏ chạy, sau đó chị là người đưa anh H đi cấp cứu.

Người làm chứng khác là bà Đinh Thị S, ông Vũ Nhân Gi vắng mặt tại phiên tòa, nhưng trong quá trình điều tra có lời khai thể hiện nội dung: Vào khoảng 18 giờ ngày 11/01/2021 bà S và ông Gi là người can ngăn bị cáo, bà S là người lấy con dao từ tay bị cáo, khi đó có nghe bị cáo nói lý do bị cáo chém anh H là bị ngăn cản không cho đi bán gà và do bị ném đá.

Hồ sơ vụ án có biên bản khám nghiệm hiện trường, thể hiện nội dung: Thời điểm khám nghiệm 22 giờ 05 phút, ngày 11/01/2021, hiện trường không còn nguyên vẹn. Kết quả khám nghiệm: Đường dẫn từ đường quốc lộ 18 vào nhà ông Đ (nhà bị cáo Th thuê trọ) đường trải bên tông rộng 3m, dài 52m; vỉa hè đường Quốc lộ 18 chiều đường Hạ Long đi Cẩm Phả rộng 4,2m, mặt vỉa hè lát đá bằng phẳng, cống thoát nước rộng 1m, có hệ thống đèn chiếu sáng khoảng cách các cột là 25m; phát hiện tại vị trí cách mép đường vào nhà ông Đ 43,5m về phía trung tâm Cẩm Phả trên mặt vỉa hè có chất màu nâu đỏ, nghi là máu bị chùi rửa diện tích 2,2x2,3m (dấu vết 1); cách vị trí dấu vết 1 là 4,1m về hướng trung tâm thành phố Cẩm Phả trên mặt cống thoát nước phát hiện dấu vết chất màu nâu đỏ nhỏ giọt nghi là máu nhỏ giọt dãy dài 29m tới ngõ đường Đặng Châu Tuệ (dấu vết số 2); song song với dấu vết đánh số 2, trên vỉa hè có dấu vết chất màu nâu đỏ nhỏ giọt, dài 23,5m (dấu vết 3); đầu dấu vết 2 cách đầu dấu vết 3 là 0,5m; cách đầu dầu vết 3 về hướng Đông 5,2m phát hiện một thùng nhựa màu đỏ bị vỡ. Mở rộng hiện trường nhưng không thu giữ đồ vật gì thêm.

Quá trình điều tra, do lời khai của bị cáo, lời khai của anh H và lời khai chị Ch có mâu thuẫn về việc giữa anh H và bị cáo có xô đẩy, có cãi nhau khi còn trong ngõ nhỏ không, có việc anh H đóng cổng to ngăn không cho bị cáo đi không; có việc anh H lấy đá ném bị cáo không, cơ quan điều tra đã tiến hành cho bị cáo đối chất với chị Ch, với anh H, kết quả đối chất bị cáo vẫn khẳng định có việc anh H đóng cổng, giữa bị cáo và anh H có cãi nhau và xô đẩy nhau, anh H có nhặt đá ném bị cáo trước khi bị cáo dùng dao chém anh H; Cơ quan điều tra đã tiến hành thực nghiệm điều tra, để bị cáo thực hiện lại nội dung bị cáo đã khai, kết quả: bị cáo cầm dao tay phải đứng đối diện bị hại khoảng 60cm thì vung dao chém tới và gây thương tích phù hợp thương tích thực tế của bị hại, bị cáo không xác định được vị trí bị cáo chém anh H, không xác định được vị trí hòn đá mà bị cáo đã chụp ảnh lại.

Ngoài ra tài liệu có trong hồ sơ còn có tài liệu khác: Biên bản tiếp nhận người ra đầu thú, Biên bản tiếp nhận tài liệu con dao do bà Sự giao nộp, Bản ảnh vật chứng, lời khai của người làm chứng Vũ Nhân Gi.

Tại bản cáo trạng số 100/CT-VKSCP, ngày 01/07/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả đã truy tố bị cáo Vũ Thị Th về tội “ Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2 và 5 Điều 65 Bộ luật hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Vũ Thị Th từ 24 đến 30 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 48 đến 60 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Trách nhiệm dân sự, bị cáo còn phải bồi thường cho bị hại số tiền 20.000.000đồng. Ngoài ra có quan điểm xử lý vật chứng theo quy định.

Bị cáo, bị hại không tranh luận với kết luận của vị đại diện Viện kiểm sát;

Khi nói lời sau cùng, bị cáo trình bày, bị cáo biết mình có lỗi với anh H, bị cáo thực sự ăn năn hối hận về hành vi của mình, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hoàn cảnh của bị cáo giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, cho bị cáo cải tạo ngoài xã hội để bị cáo có cơ hội đi làm nuôi gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau :

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Cẩm Phả, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Hội đồng xét xử xét thấy, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Vũ Thị Th khai nhận: hồi 18 giờ, ngày 11/01/2021 bị cáo dùng dao chém, gây thương tích cho anh H, làm anh H bị tổn hại 25% sức khỏe. Lời khai này của bị cáo phù hợp lời khai của bị hại, người làm chứng, phù hợp kết luận giám định thương tích và tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Về nguyên nhân bị cáo gây thương tích cho anh H, bị cáo và anh H trình bày về nội dung này có sự mâu thuẫn, nhưng căn cứ tài liệu điều tra đã được xem xét và phân tích ở phần nội dung vụ án, có đủ cơ sở khẳng định khi chị Ch đến đòi tiền bị cáo, anh H không liên quan đến khoản nợ này, nhưng H đã có hành động đặt tay trên lồng gà mà bị cáo đang có ý định mang đi giao và khi ra đến cổng lớn anh H có lời nói ủng hộ chị Ch trong việc chị Ch ngăn không cho bị cáo đi, hành động này của anh H đã gây bức xúc đối với bị cáo, bị cáo và anh H đã xảy ra xô đẩy nhau; theo bị cáo trình bày bị cáo chém anh H còn vì lý do trước đó anh H có hành động ném đá trúng tay bị cáo, nhưng căn cứ tài liệu điều tra không có cơ sở chấp nhận nội dung này; nên hành vi gây Thơng tích cho bị hại trong vụ án này là không có tính chất côn đồ và cũng không thuộc trường hợp do hành vi trái pháp luật của nạn nhân gây ra.

Từ các phân tích trên Hội đồng xét xử đủ căn cứ kết luận, hồi 18 giờ, ngày 11/01/2021 bị cáo dùng dao là hung khí nguy hiểm, gây Thơng tích cho anh H, làm anh H bị tổn hại 25% sức khỏe. Hành vi này của bị cáo đã phạm vào tội “Cố ý gây Thơng tích” quy định tại điểm đ khoản 2 (thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134) Điều 134 Bộ luật hình sự, tội danh có khung hình phạt từ 2 năm đến 6 năm tù. Cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đề nghị của kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm sức khoẻ của con người là một trong những khách thể được luật hình sự bảo vệ. Bị cáo là người đã trưởng thành, nhận thức rõ được sự nghiêm cấm của pháp luật đối với việc xâm phạm trái phép đến sức khỏe của người khác là trái pháp luật, nhưng vì coi thường pháp luật, coi thường sức khỏe người khác bị cáo cố tình thực hiện. Hành vi của bị cáo không chỉ xâm phạm đến sức khỏe của bị hại mà còn gây mất trật tự trị an xã hội, gây tâm lý lo lắng hoang mang trong quần chúng nhân dân.

Về tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo: Hội đồng xét xử xét thấy: Tại phiên tòa và trong quá trình điều tra bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, sau khi phạm tội đã ra đầu thú, đã thỏa thuận và bồi thường được hơn ½ mức bồi thường cho bị hại, được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo phạm tội lần đầu, nên xác định có nhân thân tốt.

Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo có nhân thân tốt, được áp dụng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, xem xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và hoàn cảnh của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy nên cho bị cáo cải tạo ngoài xã hội cũng đủ để giáo dục bị cáo nói riêng và phòng ngừa tội phạm nói chung.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và bị hại đã thống nhất quan điểm, bị cáo có trách nhiệm bồi thường tiếp cho bị hại số tiền 20.000.000đồng, sự thỏa thuận này là tự nguyện và phù hợp nên được ghi nhận.

Vật chứng: con dao bị cáo dùng để gây thương tích cho bị hại và thùng rác bằng nhựa màu đỏ đã bị vỡ thu giữ tại hiện trường, do không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu huỷ; 01 chiếc điện thoại di động thu giữ của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội, trả lại cho bị cáo.

Về án phí : Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134 (thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự); điểm b; s khoản 1; khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2 và 5 Điều 65 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Vũ Thị Th phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt: Bị cáo Vũ Thị Th 24 (hai mươi tư) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 (bốn mươi tám) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Vũ Thị Th cho UBND xã L thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, quản lý và giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với cơ quan tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Toà án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo;

Áp dụng điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự.

-Tịch thu tiêu huỷ: 01 con dao kim loại kiểu dao chặt, dài 38,3m phần lưỡi dài 27cm, bản rộng 8,7cm trên con dao có chữ “Tới”, đã qua sử dụng; 01 thùng rác bằng nhựa, màu đỏ, đã qua sử dụng, bị vỡ, chỉ còn đáy thùng.

-Trả cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu SamSung, màu xanh, màn hình bị xước, vỡ; imei 1:357966/10/878642/8, imei 2:357967/10/878642/6, không kèm sim, đã qua sử dụng.

(Hiện trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng số 153/2021/BB-THA ngày 04/08/2021 của Cơ quan Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cẩm Phả).

Áp dụng khoản 1 Điều 584; khoản 1 Điều 585, Điều 590 Bộ luật dân sự 2015: Buộc bị cáo Vũ Thị Th phải bồi thường cho bị hại là anh Nguyễn Duy H số tiền: 20.000.000đồng (Hai mươi triệu đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của bị hại, cho đến khi thi hành án xong, bị cáo còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

(Nghĩa vụ bồi Thờng này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.)

Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; buộc bị cáo Vũ Thị Th phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và phải chịu 1.000.000đồng Một triệu đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm công khai có mặt bị cáo, có mặt bị hại. Căn cứ Điều 331, khoản 1 Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự, báo cho bị cáo Vũ Thị Th, bị hại là anh Nguyễn Duy H biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Nơi nhận:

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Bị cáo; bị hại;

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

- VKSND thành phố Cẩm Phả;

- VKSND và TAND tỉnh Quảng Ninh;

- Cơ quan CSĐT Công an TP. Cẩm Phả;

- Cơ quan THAHS Công an TP. Cẩm Phả;

- Chi cục THADS thành phố Cẩm Phả;

Đặng Thị Minh Ngà

- Lưu hồ sơ, Văn phòng.

Các Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa Trần Mạnh Hùng

– Nguyễn Thị Minh Huyền

Đặng Thị Minh Ngà ; - -

- - -

Thành viên Hội đồng xét

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Trần Mạnh Hùng

– Nguyễn Trọng Quý

Đặng Thị Minh Ngà Các thành viên Hội đồng xét xử

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Văn Tơn - Trần Ngọc Chiến

Đặng Thị Minh Ngà

Đối với người đàn ông không rõ nhân thân, lai lịch mà Lục Ninh Bình khai góp tiền mua ma túy với Bình, quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cẩm Phả tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau.

Vì lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

1. Truy tố ra trước Toà án nhân dân thành phố Cẩm Phả để xét xử bị can Lục Ninh Bình về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

2. Kèm theo cáo trạng gồm có:

- Hồ sơ vụ án gồm có: 01 tập, bằng 95 tờ, đánh số thứ tự từ 01 đến 95;

- Bản kê vật chứng;

- Danh sách những người VKS đề nghị Tòa án triệu tập đến phiên toà.

Cỡ chữ