vanban.org

Bản án 106/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Thạch Thất, TP. Hà Nội Tuyên án 10/12/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Anh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Về hình phạt: Về vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn T trộm cắp ts - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Anh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TT
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:106/2021/HS-ST
Ngày: 10/12/2021

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TT, THÀNH PHỐ HÀ NỘI.

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thâm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Thiết

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Chiến.

Ông Đặng Văn Tần.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải, Thư ký Toà án nhân dân huyện TT, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TT tham gia phiên toà: Ông Phùng Văn Chung, Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 12 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện TT, thành phố Hà Nội mở phiên tòa xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 84/2021/TLST- HS ngày 14 tháng 9 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 87/2021/QĐXXST- HS ngày 16 tháng 9 năm 2021, đối với bị cáo:

1. Nguyễn Anh T, SN 1996, tại xã HT, huyện QO, thành phố Hà Nội. Nơi ĐKHKTT và nơi ở: Thôn LP, xã HT, huyện QO, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; văn hóa 12/12; Nghề nghiệp: Công nhân; con ông Nguyễn Ngọc Đ, SN 1958 và bà Nguyễn Thị T, SN 1960 vợ con chưa có.

Theo danh bản, chỉ bản số 161 lập ngày 04/6/2021 tại công an huyện TT thì bị cáo có tiền án sau:

- Tại bản án số 01/2014/HSST ngày 17/01/2014, Tòa án nhân dân huyện QO xử phạt 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, bị cáo kháng cáo. Ngày 05/6/2014, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã ra Quyết định. Đình chỉ xét xử phúc thẩm số 406/2014/HSPT-QĐ. Do bị cáo rút đơn kháng cáo. (chưa được xóa án tích do chưa chấp hành nộp tiền án phí trước thời gian phạm tội)

Bị bắt tạm giữ ngày 27/5/2021, được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú ngày 05/6/2021. Bị cáo tại ngoại có mặt.

Ngƣời bị hại:

- Công ty cổ phần nghiên cứu và sản xuất VM.

Địa chỉ: Lô C1-06B-1&2 Khu Công nghệ cao HL, xã HB, huyện TT, thành phố Hà Nội.

+ Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Xuân H. Gám đốc nhân sự và đào tạo.

+ Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Đức N. Trưởng phòng An ninh, an toàn phòng chống cháy nổ Công ty. (văn bản ủy quyền ngày 15/9/2021) có mặt.

Nhân chứng:

Anh Lê Văn M, sinh năm 1990; Địa chỉ: Thôn HĐ, xã TS, huyện TB, tỉnh Thái Bình (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Anh T là Công nhân của Công ty cổ phần nghiên cứu và sản xuất VM. Khoảng 7 giờ 20 phút ngày 22/5/2021 T đến Công ty làm việc và nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. T mặc trang phục của Công ty và đội mũ vải trắng, loại mũ giành cho nhân viên lắp ráp rồi đi vào khu vực Line, nơi để một số thùng cát tông đựng điện thoại đã lắp xong. Quan sát xung quanh khu vực không có người, T đẩy xe kéo 5 tầng đến vị trí Line PACK 16, sau đó lấy trộm 01 thùng cát tông đựng điện thoại ký hiệu Pack 16 đặt lên xe và đẩy vào kho nguyên liệu nơi T làm việc để cất dấu. T mở thùng cát tông ra bên trong có 10 chiếc điện thoại nhãn hiệu VSMART ARIS PRO, RAM 08GB, dung lượng bộ nhớ trong 128GB đã lắp ráp và đóng hộp hoàn thiện. T lấy 01 chiếc ra cài đặt và sử dụng một lúc rồi để lại vào thùng, sau đó bóc toàn bộ 10 chiếc điện thoại ra rồi bỏ vỏ hộp cùng cáp, sạc vào trong các thùng chứa cáp, sạc và hộp đựng điện thoại của kho nguyên liệu, còn 10 chiếc điện thoại để vào 01 thùng cát tông cất trong kho. Khoảng 7 giờ 30 phút ngày 26/5/2021, sợ bị phát hiện nên T đem 10 chiếc điện thoại vào nhà vệ sinh của Công ty cất lên mặt thùng đựng giấy vệ sinh rồi quay về kho nguyên liệu làm việc. Khoảng 7 giờ 50 phút cùng ngày anh Lê Văn M là nhân viên của Công ty phát hiện 10 chiếc điện thoại trong nhà vệ sinh nên đã báo cho anh Phạm Đức N trưởng phòng an ninh an toàn của Công ty, đến khoảng 10 giờ cùng ngày qua trích xuất camera an ninh anh N đã gọi T đến làm việc và lập biên bản trình báo đến Đồn Công an khu Công nghệ cao HL. T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Tang vật thu giữ:

- 10 chiếc điện thoại nhãn hiệu VSMART ARIS PRO, RAM 08GB dung lượng bộ nhớ trong 128GB, màu xanh và 10 bộ sạc gồm dây và củ sạc.

- 11 hình ảnh camera do Công ty cổ phần nghiên cứu và sản xuất VM cung cấp.

- 01 chiếc áo vải dài tay màu trắng có kẻ sọc màu đen, trên ngực áo bên trái có dòng chữ VM và 01 chiếc quần cải màu trắng, dưới cạp quần bên trái có chức L (là quần áo tuấn mặc trong quá trình trộm cắp tài sản).

Tại bản kết luận định giá tài sản số: 63 ngày 28/5/2021, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện TT kết luận: Giá trị của 10 chiếc điện thoại nhãn hiệu VSMART ARIS PRO, RAM 08GB, dung lượng bộ nhớ trong 128GB, màu xanh và 10 bộ sạc gồm dây và củ sạc của điện thoại VSMART ARIS PRO, được xác định là 65.970.000đ (sáu lăm triệu chín trăm bảy mươi nghìn đồng)

5. Về trách nhiệm dân sự:

Công ty cổ phần nghiên cứu và sản xuất VM đã nhận lại tài sản không yêu cầu đề nghị gì về bồi thường dân sự.

Tại bản cáo trạng số 82/CT-VKS-TT ngày 06/9/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện TT, thành phố Hà Nội truy tố bị cáo Nguyễn Anh T về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c, khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Cũng tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo, sau khi phân tích đánh giá hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đề nghị hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c, khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h, khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Anh T với mức án từ 30 đến 36 tháng tù.

Bị cáo không có ý kiến gì với bản luận tội của Viện Kiểm sát, không tranh luận gì, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo đươc sớm trở về với gia đình.

Người bị hại không tranh luận gì đề nghị hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, về dân sự không yêu cầu đề nghị gì thêm, bộ quần áo bảo hộ lao động của Công ty trang bị cho công nhân trong khi làm việc giá trị còn lại không đáng kể đề nghị Hội đồng cho tiêu hủy.

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện TT, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện TT, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về diễn biến quá trình thực hiện hành vi phạm tội: Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu trên. Lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa đều phù hợp với nhau phù hợp với tang vật thu giữ được, do đó Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Bản thân bị cáo là Công nhân làm việc trong Công ty, nhưng vì cần tiền tiêu sài cá nhân, lợi dụng trước giờ làm việc khi trong xưởng chưa có công nhân đến làm việc, bị cáo đã cải trang phục lén lút vào khu vực xưởng lắp ráp điện thoại không thuộc khu làm việc của bị cáo và trộm cắp 01 thùng cát tông trong đó có 10 chiếc điện thoại, sau đó đem về khu vực xưởng nguyên liệu của bị cáo tháo bỏ toàn bộ vỏ hộp rồi đem vào phòng vệ sinh cất dấu, trong khi chưa kịp đem đi tiêu thụ thì bị phát hiện thu giữ tang vật gồm:

10 chiếc điện thoại nhãn hiệu VSMART ARIS PRO, RAM 08GB dung lượng bộ nhớ trong 128GB, màu xanh và 10 bộ sạc gồm dây và củ sạc.

Tại bản kết luận định giá tài sản số: 63 ngày 28/5/2021, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện TT kết luận: Giá trị của 10 chiếc điện thoại nhãn hiệu VSMART ARIS PRO và 10 bộ sạc được xác định là 65.970.000đ (sáu lăm triệu chín trăm bảy mươi nghìn đồng)

Với hành vi trên của bị cáo đã thực hiện thì bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” với tình tiết tăng nặng định khung. Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000đ đến dưới 200.000.000đ, dẫn chiếu và được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện TT đã truy tố bị cáo là hoàn toàn chính xác đúng pháp luật. Xong luận tội của Viện kiểm sát chưa xem xét đánh giá các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để áp dụng cho bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Bị cáo có 01 tiền án về tội trộm cắp tài sản, đã chấp hành xong hình phạt, xong chưa chấp hành nộp tiền án phí nên chưa được xóa án tích. Lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm được quy định tại điểm h, khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tài sản đã được thu hồi, người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, cả bố và mẹ đều có công với cách mạng được Chủ tịch ban chấp hành Trung ương hội cựu chiến binh Việt Nam tặng kỷ niệm chương. Các tình tiết nêu trên được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Căn cứ tính chất mức độ, hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã được viện dẫn. Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly xã hội đối với bị cáo một thời gian để cải tạo, giáo dục phòng ngừa chung xong cho bị cáo được hưởng mức án thấp hơn mức đề nghị của Viện kiểm sát, tạo điều kiện cho bị cáo rèn luyện sớm trở thành công dân tốt.

Về hình phạt bổ sung;

Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự 2015 thì: Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đ đến 50.000.000đ.

Xét hoàn cảnh của bị cáo không có thu nhập ổn định, không có tài sản nên Hội đồng không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng vụ án:

- 10 chiếc điện thoại nhãn hiệu VSMART ARIS PRO, RAM 08GB dung lượng bộ nhớ trong 128GB, màu xanh và 10 bộ sạc gồm dây và củ sạc. Cơ quan điều tra đã trả lại cho Công ty cổ phần nghiên cứu và sản xuất VM nên Hội đồng không đề cập.

- 11 hình ảnh camera do Công ty cổ phần nghiên cứu và sản xuất VM cung cấp, là tài liệu để chứng minh cho hành vi phạm tội của bị cáo nên cần được lưu trữ theo hồ sơ vụ án.

- 01 chiếc áo vải dài tay màu trắng có kẻ sọc màu đen và 01 chiếc quần vải màu trắng, là tài sản riêng của Công ty cổ phần nghiên cứu và sản xuất VM trang bị cho công nhân làm việc giá trị còn lại không đáng kể đề nên tịch thu tiêu hủy.

Về trách nhiệm dân sự:

Công ty cổ phần nghiên cứu và sản xuất VM, không yêu cầu đề nghị gì thêm nên Hội đồng không xét.

Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn) đồng án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 và điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Anh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

1. Về hình phạt:

Áp dụng điểm c, khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Anh T 24 (hai bốn) tháng tù, được trừ thời hạn tạm giữ từ ngày 27/5/2021 đến ngày 05/6/2021. Thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.

2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc áo và 01 chiếc quần vải có đặc điểm ghi như trong biên bản giao nhận vật chứng số 52 ngày 16/9/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện TT.

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 và điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội buộc bị cáo phải chịu 200.000 đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 332 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 bị cáo, đại diện chio người bị hại có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ