- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Phạm Ngọc T phạm tội Tàng trữ hàng cấm - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Các bị cáo Phạm Ngọc T và Võ Văn N về tội “Tàng trữ hàng cấm”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 54 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬ N THỐ T NỐ T THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 106 /2020/HSST Ngày: 25- 9- 2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬ N THỐ T NỐ T - THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Kiệt
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Thảo
2. Ông Kiều Văn Cách
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hằng –Thư ký Toà án Nhân dân
quậ n Thố t Nố t - thành phố Cần Thơ.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân quậ n Thố t Nố t - thành phố Cần Thơ tham
gia phiên toà: Ông Đặng Minh Thiện - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân quậ n Thố t Nố t -
thành phố Cần Thơ, tiế n hà nh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 81/2020/HSST ngày 31 tháng 7 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 118/2020/QĐXXST-HS ngày 14/9/2020, đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: VÕ VĂN N - sinh năm: 1973; ĐKTT: Ấp T, xã M, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh. Trình độ học vấn: 2/12; Nghề nghiệp: Làm thuê. Cha: Võ Văn N – SN 1949; Mẹ: Nguyễn Thị B – SN 1951. Vợ: Cao Thị Yến T – sinh năm 1981, Con: Võ Thị Ngọc H – sinh năm 2002. Tiền án, tiền sự: Chưa.
Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/12/2019. (Bị cáo có mặt),
2. Họ và tên: PHẠM NGỌC T - sinh năm: 1967; Tên gọi khác: Bảy Méo. ĐKTT: Khu vực P1, phường T, quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ. Chỗ ở: Khu vực L1, phường T, quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh. Trình độ học vấn: 6/12; Nghề nghiệp: Không. Cha: Phạm Ngọc C – (chết); Mẹ: Mai Thị M – (chết); Vợ: Đặng Thị Thu H – sinh năm 1964, Con: Phạm Đặng Ngọc T – sinh năm 1992. Tiền án, tiền sự: Chưa.
Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 31/12/2019. (Bị cáo có đơn đề nghị xét xử vắng mặt),
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1. Cao Thanh T – sinh năm 1989. Vắng mặt
Cư trú: Khu vực T1, P. Th, Q. Thốt Nốt, Tp. Cần Thơ.
2. Ngô Thanh S – sinh năm 1987. Vắng mặt
Cư trú: Khu vực L1, P. T, Q. Thốt Nốt, Tp. Cần Thơ.
3. Lê Thị C – sinh năm 1955. Vắng mặt
Cư trú: Khu vực L2, P. N, Q. Thốt Nốt, Tp. Cần Thơ.
4. Nguyễn Hoàng H – sinh năm 1993. Vắng mặt
Cư trú: Ấp B2, xã A, huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.
* Người làm chứng:
1. Đặng Thị Thu H – sinh năm 1964. Vắng mặt
Cư trú: Khu vực L1, P. T, Q. Thốt Nốt, Tp. Cần Thơ.
2. Phạm Đặng Ngọc T – sinh năm 1992. Vắng mặt
Cư trú: Khu vực L1, P. T, Q. Thốt Nốt, Tp. Cần Thơ.
NỘ I DUNG VỤ Á N:
Qua cá c tà i liệ u có trong hồ sơ vụ á n và quá trình xét hỏi, tranh luậ n tạ i phiên tòa, nộ i dung vụ á n đượ c tó m tắ t như sau:
Vào lúc 07 giờ ngày 22/12/2019, đội Cảnh sát điề u tra tộ i phạ m về kinh tế
Công an quận Thốt Nốt, phát hiện bắ t quả tang Nguyễn Hoàng H đang điều khiển xe môtô biển số 52H5-0987 vận chuyển 1.490 bao thuố c lá điếu nhập lậu gồ m (490 bao thuốc lá hiệu Jet và 1000 bao thuốc lá hiệu Hero) chở vào nhà Phạm Ngọc T tại khu dân cư thuộc khu vực L1 - phường T - quận Thốt Nốt, lự c lượ ng tiế p tụ c kiể m tra thì phát hiện bên trong nhà của Phạm Ngọc T còn tàng trữ 10.570 bao thuố c lá điếu nhập lậu gồ m (3.900 bao thuốc lá hiệu Jet và 6.670 bao thuốc lá hiệu Hero ) nên tiế n hà nh lậ p biên bả n phạ m tộ i quả tang, thu giữ tang vậ t gồ m:
- 01 xe môtô biển số 52H5-0987;
- 01 xe mô tô biển số 67M9-7981;
- 01 điệ n thoạ i di độ ng hiệ u Itel gắ n sim số : 0346027166.
- Thu giữ củ a Nguyễn Hoàng H 1.490 bao thuố c lá gồ m (490 bao thuốc lá hiệu Jet và 1000 bao thuốc lá hiệu Hero).
- Thu giữ tạ i nhà Phạ m Ngọ c T 10.570 bao thuố c lá gồ m (3.900 bao thuốc lá hiệu Jet và 6.670 bao thuốc lá hiệu Hero).
- Quá trình điều tra thu giữ của Lê Thị C 01 điệ n thoạ i di độ ng hiệ u NOKIA gắ n sim số : 0949378869 và 0796976504.
Quá trình điều tra Phạm Ngọc T khai nhậ n, vào khoảng giữa tháng 11/2019, Võ Văn N đến gặp T hỏi gửi nhờ thuốc lá điếu nhập lậu dù m cho bà Lê Thị C (Bảy N) và hứa cho tiền T để uố ng thuố c và trị bệnh nên T đồ ng ý . Sau đó , N đã đem tổng cộng 07 lầ n thuốc lá điếu nhập lậu vào cấ t giấ u tạ i nhà củ a T , mỗi lần vớ i số lượng khoảng từ 5000 bao đến 6000 bao, riêng ngày bị Công an phát hiện bắ t quả tang là 10.570 bao, là do Võ Văn N vừ a mớ i đem và o cấ t giấ u.
Võ Văn N khai nhậ n, Vào khoảng 04 giờ 30 phút ngày 22/12/2019, thì bà Lê Thị C điệ n thoạ i cho N kêu chạ y xuố ng khu dân cư thuộc khu vực L 1, phường T, để đón nhận thuốc lá từ các đối tượng chở thuê đem đến giao . Đến khoả ng 05 giờ cùng ngày, N điều khiển xe môtô biển số 67M9-7981 chạy đến khu dân cư , để đón nhận thuốc lá thì gặ p có 04 người thanh niên chạy 04 xe môtô chở thuốc lá đem đến giao cho N, tổng số lượng là 10.570 bao thuố c lá điếu nhập lậu. Sau khi nhận, N mang thuốc lá trên đem vào nhà củ a Phạ m Ngọ c T cất giấu, đến 07 giờ 30 phút cùng ngày, thì bị lự c lượng chức năng kiểm tra , bắt quả tang. Số thuố c lá nhậ p lậ u trên là củ a bà Lê Thị C, thuê N nhậ n và đem và o nhà Phạ m Ngọ c T cấ t giấ u dù m, vớ i tiề n công bà C trả cho N là 250.000 đồ ng.
Lê Thị C khai nhận, số thuố c lá bị bắ t quả tang tạ i nhà củ a T không phả i củ a C, C không biế t gì về số thuố c lá nêu tr ên. Cẩ m thừ a nhậ n và o khoả ng 03 tháng, trướ c khi N bị bắt thì C có điện thoại hỏi mua thuốc lá điếu nhập lậu của Nguyễn Hồng T ngụ ở ấp B1, xã A, huyện Châu Thành, tỉnh An Giang, dùm cho N được 02 lần, mỗi lần vớ i số lượng khoảng 1.490 bao (gồm thuốc lá hiệu Jet và Hero). Sau đó , thì C cho N số điệ n thoạ i củ a T để hai người tự liên hệ mua bán với nhau , đồ ng thờ i bả n thân C có liên lạc mua lại thuốc lá điếu nhập lậu của N đượ c 03 lầ n, mỗi lần là 200 bao thuốc hiệu Hero, để về bán lại kiếm lời , khi mua thì N giao thuố c cho C tại nhà của Phạm Ngọc T.
Đối với hành vi vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu củ a Nguy ễn Hoàng H và hành vi mua bán thuốc lá điếu nhập lậu củ a Lê Thị C, do chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp.
Đối với Nguyễn Hồng T, hiệ n nay không có mặ t tạ i đị a phương , nên Cơ quan Cảnh sát điều tra sẽ tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau.
Tại Cáo trạng số 86/CT-VKS ngà y 30/7/2020, Viện kiểm sát nhân dân quậ n Thố t Nố t - Tp. Cần Thơ truy tố 02 bị cáo Phạm Ngọc T và Võ Văn N về tội “Tàng trữ hàng cấm” theo điểm b khoản 3 Điều 191 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố. Kiểm sát viên thực hành quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố, đồng thời đề nghị:
- Về trách nhiệm hình sự:
Áp dụng: Điều 17; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; điểm b khoản 3 Điều 191 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; đối với bị cáo Phạm Ngọc Thiện
+ Xử phạt bị cáo Phạm Ngọc T từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù.
+ Hình phạt bổ sung: Miễn cho bị cáo.
Áp dụng: Điều 17; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; điểm b khoản 3 Điều 191 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; đối với bị cáo Võ Văn Nhu
+ Xử phạt bị cáo Võ Văn N 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù.
+ Hình phạt bổ sung: Miễn cho bị cáo.
- Về xử lý vậ t chứ ng:
+ Tịch thu sung công quỹ nhà nước: 01 xe mô tô biển số 52H5- 0987; 01 xe mô tô biển số 67M9-7981; 01 điện thoại di động hiệu Itel kèm xác sim 0346027166; 01 điện thoại di động hiệu Nokia kèm xác sim 0949378869 và xác sim 0796976504.
+ Tịch thu tiêu huỷ 12.060 bao thuốc lá (gồm 7.670 bao thuốc lá Hero và 4.390 bao thuốc lá Jet).
Các bị cáo nói lời sau cùng: xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬ N ĐỊ NH CỦ A HỘ I ĐỒ NG XÉ T XỬ :
Trên cơ sở nộ i dun g vụ á n , căn cứ và o cá c tà i liệ u trong hồ sơ vụ á n đã đượ c thẩ m tra, xét hỏi, tranh luậ n tạ i phiên tò a, Hộ i đồ ng xé t xử nhậ n thấ y như sau:
[1] Về hà nh vi , quyế t đị nh tố tụ ng củ a Cơ quan điề u tra Công an quậ n Thố t
Nố t, Điề u tra viên , Việ n kiể m sá t nhân dân quậ n Thố t Nố t , Kiể m sá t viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thự c hiệ n đú ng về thẩ m quyề n , trình tự thủ tục quy định của Bộ luậ t Tố tụ ng hì nh sự . Quá trình điều tra và tại phiên tò a không có ngườ i nà o khiế u nại về hành vi, quyế t đị nh củ a Cơ quan tiế n hà nh tố tụ ng, ngườ i tiế n hà nh tố tụ ng. Do đó , các hành vi, quyế t đị nh tố tụ ng củ a Cơ quan tiế n hà nh tố tụ ng, ngườ i tiế n hà nh tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên toà hôm nay, bị cáo T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt vì lý do bị bệnh phải chạy thận theo chỉ định của bác sĩ nên không đến tham gia phiên toà được. Xét thấy, bị cáo đã có lời khai rõ ràng trong quá trình điều tra, sự vắng mặt của bị cáo không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án, nên Hội đồng xét xử thống nhất tiến hành xét xử vắng mặt bị cáo T theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 290 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[3] Trong điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội, lời nhận tội của các bị cáo về cơ bản phù hợp với các chứng cứ được thu thập trong quá trình điều tra. Tuy nhiên, qua đối chất lời khai giữa các bị cáo, giữa những người liên quan vẫn còn có những tình tiết còn mâu thuẫn, chưa thống nhất. Cụ thể như:
Bị cáo T cho rằng từ giữa tháng 11/2019, N đến gặp Thiện hỏi gửi nhờ thuốc lá điếu nhập lậu dùm cho bà Lê Thị C và hứa cho tiền T uống thuốc. Từ 11/2019 đến ngày 22/12/2019, tổng cộng N đã gửi thuốc lá nhà T 07 lần, mỗi lần số lượng khoảng 5.000 đến 6.000 bao (gói) thuốc lá. Tuy nhiên, bị cáo N cho rằng chỉ mới có gửi thuốc lá nhà T được 01 lần là ngày 22/12/2019 với số lượng 10.570 bao thì bị Công an phát hiện bắt giữ. Qua đối chiếu lời khai của bà Lê Thị C, thì trước ngày 22/12/2019 bà C từng đến nhà T để lấy (mua) thuốc lá khoảng 03 lần, mỗi lần khoảng 200 bao thuốc lá, do N bán cho bà C. Lời khai của bà C về tình tiết này phù hợp với lời khai của T.
Như vậy, mặc dù lời khai các bên không thống nhất, nhưng có cơ sở để xác định rằng N đã gửi thuốc lá nhà T nhiều lần trước ngày bị bắt 22/12/2019. Tuy nhiên, số lượng mỗi lần bao nhiêu bao thuốc thì chưa thể chứng minh được. Cũng như chưa có căn cứ xác định số thuốc lá do ai giao dịch mua về để tàng trữ nhằm bán lại kiếm lời, bỡi N và bà C đỗ trách nhiệm cho nhau, không ai chịu nhận thuốc lá nhập lậu là do mình mua để bán lại, mà chứng cứ khách quan để chứng minh là chưa có. Do đó, chỉ có thể căn cứ vào hành vi tàng trữ số lượng thuốc lá nhập lậu bị bắt quả tang ngày 22/12/2019 là 10.570 bao gồm 3.900 bao thuốc lá hiệu Jet và 6.670 bao thuốc lá hiệu Hero mà bị cáo N và T thực hiện để truy cứu trách nhiệm hình sự. Hành vi đó đã xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của nhà nước, đủ yêu tố cấu thành tội “Tàng trữ hàng cấm” theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 191 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
[4] Hành vi các bị cáo thực hiện là nguy hiểm đối với xã hội, bỡi hàng hoá mà các bị cáo tàng trữ là thuộc danh mục hàng cấm, việc vận chuyển, tàng trữ, mua bán trái pháp luật phải được xử lý nghiêm minh. Các bị cáo hoàn toàn nhận thức được hậu quả từ hành vi của mình, nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hai bị cáo tuy cùng nhau tàng trữ số lượng lớn thuốc lá ngoại nhập lậu nhưng không có sự bàn bạc phân công vai trò nhiệm vụ cụ thể, nên đây là trường hợp đồng phạm giản đơn. Trong đó, bị cáo N là người đề xướng rủ rê bị cáo T thực hiện, N cũng là người trực tiếp nhận, kiểm tra số thuốc lá người khác mang đến, còn T cho N sử dụng nhà mình để tàng trữ thuốc lá nhằm hưởng lợi. Do đó, vai trò phạm tội của T cao hơn so với N. Khi lượng hình, Hội đồng xét xử chiếu cố cho bị cáo N và T hưởng tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải được quy định tại điểm p khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, mặc dù lời khai của hai bị cáo này còn mâu thuẫn với nhau. Ngoài ra, xét bị cáo N có nhân thân tốt, hoàn cảnh bị cáo T bị bệnh phải điều trị chạy thận theo chỉ định bác sĩ, chân bị tai nạn giao thông không đi đứng được, thuộc diện đối tượng trợ cấp khuyết tật nặng nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm p khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Hội đồng xét xử có giảm hình phạt cho từng bị cáo. Riêng đối với hoàn cảnh bị cáo T, cần áp dụng khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự để xử dưới khung hình phạt.
[5] Về hình phạt bổ sung: Miễn do hoàn cảnh các bị cáo gặp khó khăn.
[6] Về xử lý vậ t chứ ng:
Đối với xe mô tô biển số 52H5- 0987 và xe mô tô biển số 67M9-7981; 01 điện thoại di động hiệu Itel kèm xác sim 0346027166; 01 điện thoại di động hiệu Nokia kèm xác sim 0949378869 và xác sim 0796976504. Đây là những phương tiện sử dụng vào việc hoạt động mua bán thuốc lá lậu, nên tịch thu sung công quỹ nhà nước.
Đối với 12.060 bao thuốc lá (gồm 7.670 bao thuốc lá Hero và 4.390 bao thuốc lá Jet). Là hàng hoá bị cấm lưu hành sử dụng, nên tịch thu tiêu huỷ.
[7] Đối với Đặng Thị Thu H, Phạm Đặng Ngọc T và Ngô Thanh S, qua điều tra xác định những người này không biết hoặc không có giúp sức thực hiện hành vi tàng trữ hàng cấm, nên Cơ quan điều tra không truy cứu trách nhiệm hình sự.
Đối với hành vi vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu củ a Nguy ễn Hoàng H và hành vi mua bán thu ốc lá điếu nhập lậu củ a Lê Thị C , theo kết quả điều tra trong vụ án này chưa đủ căn cứ định lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính.
Đối với Nguyễn Hồng T, qua điều tra xác minh T không có mặ t tạ i đị a phương, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra chưa tiếp xúc làm việc được. Hội đồng xét xử kiến nghị Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ hành vi của Nguyễn Hồng T và những người liên quan (nếu có), để xử lý theo quy định pháp luật, tránh bỏ sót tội phạm.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên, Hội đồng xét xử;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Các bị cáo Phạm Ngọc T và Võ Văn N về tội “Tàng trữ hàng cấm”.
1. Về trách nhiệm hình sự:
Áp dụng: Điều 17; điểm p, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; điểm b khoản 3 Điều 191 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, đối với bị cáo Phạm Ngọc Thiện
+ Xử phạt bị cáo Phạm Ngọc T 04 (bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt.
+ Hình phạt bổ sung: Miễn cho bị cáo.
Áp dụng: Điều 17; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm b khoản 3 Điều 191 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, đối với bị cáo Võ Văn Nhu
+ Xử phạt bị cáo Võ Văn N 05 (năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/12/2019.
+ Hình phạt bổ sung: Miễn cho bị cáo.
2. Về xử lý vậ t chứ ng : Áp dụng Điều 47của Bộ luật Hình sự năm 2015, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
+ Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 xe mô tô biển số 52H5-0987; 01 xe mô tô biển số 67M9-7981; 01 điện thoại di động hiệu Itel kèm xác sim 0346027166; 01 điện thoại di động hiệu Nokia kèm xác sim 0949378869 và xác sim 0796976504.
+ Tịch thu tiêu huỷ 12.060 bao thuốc lá (gồm 7.670 bao thuốc lá hiệu Hero và 4.390 bao thuốc lá hiệu Jet).
3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 31 tháng 12 năm 2016;
Mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND TP.Cần Thơ; - VKSND Q.Thốt Nốt; - Công an Q.Thốt Nốt; - Chi cục THADS Q.Thốt Nốt; - Bị cáo…; - Lưu HS . | Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà Nguyễn Văn Kiệt |