- Tranh chấp gì? án hình sự — "Văn Huy Th phạm tội "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Văn Huy Th phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ H TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 106/2020/HS - ST Ngày: 30/11/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ H, TỈNH NGHỆ AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Tuấn.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Bảy và ông Nguyễn Văn Lĩnh.
Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Hồng Lĩnh - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã H.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã H tham gia phiên tòa: Bà Văn Thị Thu Hường - Kiểm sát viên.
Trong ngày 30 tháng 11 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã H, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số 103/2020/TLST - HS ngày 19 tháng 11 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 143/2020/QĐXXST - HS ngày 19 tháng 11 năm 2020, đối với bị cáo:
Văn Huy Th; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 08/6/1994; Nơi cư trú: Thôn N, xã Tr, thị xã Ngh, tỉnh Thanh Hóa; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 07/12; Con ông Văn Huy T, sinh năm 1969; Con bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1974; Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo không bị bị tạm giữ, tạm giam. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
Người đại diện theo pháp luật cho bị cáo: Ông Văn Huy T, sinh năm 1969, có mặt.
Nơi cư trú: Thôn N, xã Tr, thị xã Ngh, tỉnh Thanh Hóa.
Người bào chữa cho bị cáo: Ông Phạm Văn H - Trợ giúp viên pháp lý, Chi nhánh số 1 - Trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh Nghệ An.
Bị hại: Ông Phan Đức Nh, sinh năm 1957, vắng mặt.
Nơi cư trú: Khối T, phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 12 giờ 00 phút ngày 23/3/2019, Văn Huy Th đi bộ từ nhà đến khu vực mỏ đá thuộc khối T, phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An. Khi đi qua nhà của ông Phan Đức Nh, Th nhìn thấy tại khu vực bếp cạnh sân nhà ông Nh có 01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave RSX, biển kiểm soát 37L1-500.80 của ông Nh đang dựng tại đó, cổng nhà không khóa. Lúc này, Th nảy sinh ý định trộm chiếc xe trên bán để lấy tiền tiêu xài cá nhân. Th đi vào khu vực sân nhà, thấy vợ chồng ông Nh đang ngủ trưa, nhìn xung quanh không thấy người, Th đến vị trí chiếc xe thì phát hiện chìa khóa đang cắm tại ổ khóa của xe. Sau đó, Th dắt chiếc xe trên đi ra cổng rồi điều khiển xe đi theo hướng xã Q, thị xã H và cảng Ngh, tỉnh Thanh Hóa để bán xe nhưng không tìm được người mua nên điều khiển xe về xã Tr, huyện T (nay là thị xã Ngh), tỉnh Thanh Hóa. Khi xe đi đến khu vực thôn Tr, xã Tr, thị xã Ngh, tỉnh Thanh Hóa, Th thấy một quán sửa chữa xe máy bên đường nên đi vào hỏi bán xe thì chủ quán không mua do không có giấy tờ. Không bán được xe, Th nhờ chủ quán sửa xe tháo giúp biển kiểm soát ra khỏi xe để tránh bị phát hiện, bỏ biển kiểm soát tại quán rồi tiếp tục điều khiển xe đã chiếm đoạt được về nhà thuộc thôn N, xã Tr, thị xã Ngh, tỉnh Thanh Hóa để lấy tiền đổ xăng. Sau đó, Th điều khiển xe theo Quốc lộ 1A, hướng về tỉnh Nghệ An để tìm chỗ bán xe. Đến khu vực xóm A, xã QT, huyện Q, tỉnh Nghệ An thì nhìn thấy một quán mua bán, sửa chữa xe máy bên đường nên Th đi vào để hỏi bán xe nhưng chủ quán trên không mua do không có giấy tờ. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, khi đến khu vực xóm B, xã QH, huyện Q, xe mô tô do Th điều khiển va chạm giao thông với xe mô tô của ông Trần Đình H đang đi trên đường. Sau va chạm, Th lên xe định bỏ chạy thì bị người đi đường yêu cầu ở lại để giải quyết. Công an huyện Q đã yêu cầu Th và anh H đến trụ sở để làm việc liên quan đến vụ va chạm giao thông. Quá trình làm việc, Văn Huy Th đã khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản của mình. Công an huyện Q đã tiến hành lập biên bản, tạm giữ vật chứng và chuyển hồ sơ đến Cơ quan CSĐT Công an thị xã H để điều tra theo thẩm quyền.
Khoảng 15 giờ cùng ngày, ông Phan Đức Nh ngủ dậy thì phát hiện chiếc xe mô tô của mình bị mất nên đã trình báo tại Công an phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An.
Ngày 04/4/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã H ra yêu cầu định giá tài sản số 705 đối với chiếc xe mô tô trên. Bản kết luận định giá tài sản số 07/KLĐG ngày 08/4/2019 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự UBND thị xã H ra kết luận: 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda Wave RSX, màu sơn Đỏ Đen Xám Trắng, không có biển số, số khung 5226CY804333, số máy C52E-5374873, xe đã qua sử dụng của ông Phan Đức Nh có giá trị tại thời điểm bị chiếm đoạt là 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng).
Quá trình điều tra, Văn Huy Th có biểu hiện tâm thần nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã H ra Quyết định trưng cầu giám định số 864 ngày 05/6/2019 trưng cầu Viện pháp y tâm thần Trung ương giám định pháp y tâm thần đối với Văn Huy Th. Do quá trình trưng cầu Viện pháp y tâm thần Trung ương, Cơ quan điều tra chưa thu thập đủ các tài liệu phục vụ việc giám định và do tình hình dịch bệnh covid-19 phải giãn cách xã hội nên chưa đưa được bị cáo đến Viện pháp y tâm thần Trung ương để tiến hành giám định.
Sau khi thu thập đầy đủ các tài liệu phục vụ việc giám định và Phân viện pháp y tâm thần Bắc miền Trung được thành lập có chức năng giám định tâm thần nên Cơ quan CSĐT Công an thị xã đã ra Quyết định trung cầu giám định số 86 ngày 30/7/2020, trưng cầu Phân viện pháp y tâm thần Bắc miền Trung giám định pháp y tầm thần đối với Văn Huy Th.
Tại Bản kết luận giám định pháp y tâm thần số 234a/KLGĐ ngày 24/9/2020 của Phân viện pháp y tâm thần Bắc miền Trung kết luận: Trước, trong sau khi thực hiện hành vi phạm tội và tại thời điểm giám định, Văn Huy Th bị bệnh Động kinh toàn thể cơn lớn có biến đổi nhân cách. Theo phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 năm 1992 (ICD 10) có mã bệnh G40.6. Tại các thời điểm kiểm tra, Văn Huy Th đủ khả năng nhận thức, hạn chế khả năng điều khiển hành vi.
Tại bản cáo trạng số 107/CT-VKS-HM, ngày 19 tháng 11 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã H đã truy tố bị cáo Văn Huy Th về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015. Tại phiên toà hôm nay Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Văn Huy Th phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Đề nghị: Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, i, q, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.
Xử phạt: Văn Huy Th từ 09-12 tháng cải tạo không giam giữ. Không khấu trừ thu nhập bị cáo Văn Huy Th trong thời hạn cải tạo không giam giữ.
Về hình phạt bổ sung: Điều kiện hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn về kinh tế nên miễn phạt tiền bổ sung.
Về trách nhiệm dân sự:
Ông Phan Đức Nh đã nhận lại chiếc xe mô tô của mình là tài sản bị Văn Huy Th lấy trộm và không có yêu cầu gì thêm về trách nhiệm dân sự nên miễn xét.
Vật chứng vụ án:
- 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda Wave RSX, màu sơn Đỏ Đen Xám Trắng, không có biển số, số khung 5226CY804333, số máy C52E-5374873, xe đã qua sử dụng của ông Phan Đức Nh đã trả lại cho ông Phan Đức Nh nên miễn xét.
- Biển kiểm soát 37L1-500.80, Văn Huy Th tháo ra khỏi xe mô tô và để lại quán sửa xe máy bên đường, Văn Huy Th đã quay lại tìm và trả lại biển số trên cho bị hại ông Phan Đức Nh nên miễn xét.
Người đại diện theo pháp luật của bị cáo ông Văn Huy T thống nhất với lời trình bày của bị cáo. Nhưng ông đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Người bào chữa cho bị cáo ông Phạm Văn H trình bày: Ông đồng ý như cáo trạng truy tố bị cáo Văn Huy Th về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, cần xem xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là người phạm tội khắc phục hậu quả; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; người phạm tội là người bị hạn chế khả năng điều khiển hành vi của mình; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được cải tạo tại địa phương mức thấp nhất của khung hình phạt như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đó được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, cơ quan điều tra Công an thị xã H, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã H trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người đại diện theo pháp luật cho bị cáo, người bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đó thực hiện đều hợp pháp.
[2] Đối chiếu lời khai của bị cáo; người bị hại và các tài liệu có trong hồ sơ, xét thấy phù hợp về thời gian, địa điểm mà bị cáo thực hiện hành vi chiếm đoạt; có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 12 giờ ngày 23/3/2019, tại nhà ông Phan Đức Nh thuộc khối T, phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An, Văn Huy Th đã lén lút chiếm đoạt chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, biển số 37L1-500.80, có số khung 5226CY804333, số máy C52E-5374873 của ông Phan Đức Nh có trị giá là 10.000.000 đồng (mười triệu đồng). Tại Bản kết luận giám định pháp y tâm thần số 234a/KLGĐ ngày 24/9/2020 của Phân viện pháp y tâm thần Bắc miền Trung kết luận: Trước, trong sau khi thực hiện hành vi phạm tội và tại thời điểm giám định, Văn Huy Th bị bệnh Động kinh toàn thể cơn lớn có biến đổi nhân cách. Theo phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 năm 1992 (ICD 10) có mã bệnh G40.6. Tại các thời điểm tra, Văn Huy Th đủ khả năng nhận thức, hạn chế khả năng điều khiển hành vi. Tuy nhiên bị cáo vẫn nhận thức được hành vi phạm tội của mình là trái pháp luật nhưng do không muốn lao động chân chính nên đã thực hiện tội phạm một cách liều lĩnh nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản để thỏa mãn nhu cầu cá nhân.
Hành vi của bị cáo thực hiện nêu trên có đủ căn cứ kết luận Văn Huy Th phạm tội: “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và khung hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố và lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên toà là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Vụ án thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội gây hoang mang, lo lắng trong cuộc sống bình thường của nhân dân. Bởi vậy, căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội về tội trộm cắp tài sản và giá trị tài sản mà bị cáo chiếm đoạt cần thiết phải xử phạt nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo thực hiện.
[4] Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là người phạm tội khắc phục hậu quả; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; người phạm tội là người bị hạn chế khả năng điều khiển hành vi của mình; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo quy định tại điểm b, i, q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do đó xử mức hình phạt như đại diện của Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp.
[5] Về hình phạt bổ sung: Điều kiện hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn về kinh tế nên miễn phạt tiền bổ sung.
[6] Vật chứng vụ án:
01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda Wave RSX, màu sơn Đỏ Đen Xám Trắng, không có biển số, số khung 5226CY804333, số máy C52E-5374873, xe đã qua sử dụng của ông Phan Đức Nh đã trả lại cho ông Phan Đức Nh nên miễn xét.
Biển kiểm soát 37L1-500.80, Văn Huy Th tháo ra khỏi xe mô tô và để lại quán sửa xe máy bên đường, Văn Huy Th đã quay lại tìm và trả lại biển số trên cho bị hại ông Phan Đức Nh nên miễn xét.
[7] Về trách nhiệm dân sự:
Ông Phan Đức Nh đã nhận lại chiếc xe mô tô của mình là tài sản bị Văn Huy Th lấy trộm và không có yêu cầu gì thêm về trách nhiệm dân sự nên miễn xét.
[8] Về án phí: Bị cáo Văn Huy Th là người khuyết tật nên được miễn án phí hình sự theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ Ban Thường Vụ Quốc Hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Văn Huy Th phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ khoản 1, Điều 173, điểm b, i, q, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.
Xử phạt: Bị cáo Văn Huy Th 09 (Chín) tháng cải tạo không giam giữ.
Thời hạn cải tạo không giam giữ của bị cáo được tính từ ngày Cơ quan tổ chức được giao giám sát bị cáo nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.
Giao bị cáo Văn Huy Thao cho UBND xã Tr, thị xã Ngh, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục.
Về án phí: Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ Ban Thường Vụ Quốc Hội. Bị cáo Văn Huy Th được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo; Người đại diện theo pháp luật có mặt được quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
| Nơi nhận: - Bị cáo; Người đại diện; bị hại; - VKSND thị xã H; - Chi cục THADS thị xã H; - Sở Tư pháp; - CA thị xã H; - VKSND tỉnh Nghệ An; - Lưu VP. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Nguyễn Duy Tuấn |